vanban.org

Bản án 140/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 10/07/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 10/07/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn P.

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 33/2026/HSST ngày 22-4-2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Tây Ninh. Tuyên bố bị cáo Võ Văn P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vo Van P - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn P.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2026/HS-PT
Ngày: 10 - 7 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thanh Giang

Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Ngầu

Ông Nguyễn Thiện Tâm

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Bảo Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Mai Thị Phương Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 110/2026/TLPT-HS ngày 03 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo Võ Văn P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2026/HS-ST ngày 22 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Tây Ninh.

Bị cáo có kháng cáo:

Võ Văn P, năm sinh 1985, tại tỉnh Tây Ninh. CCCD số: 080085004327 cấp ngày 07-08-2022.Nơi cư trú: ấp D, xã M, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn C, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Phạm Thị N, sinh năm 1953; vợ tên Phạm Thị Ánh H (Bé) (Đã ly hôn); có 01 người con, sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: không có;

Nhân thân: Ngày 25-02-2009, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 02 năm tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Ngày 15-11-2016, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội "mua bán trái phép chất ma tuý".

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-12-2025 tại Phân Trại tạm giam M, Công an tỉnh T đến ngày 13-02-2026 cho bảo lĩnh.

Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào chiều ngày 21-12-2025, bị cáo Võ Văn P đi đến khu vực B thuộc Ấp F, xã M, tỉnh Tây Ninh, giáp ranh giới với Campuchia để đi bắn chim. Tại đây, bị cáo P quen biết một người đàn ông tên B (không rõ nhân thân, lai lịch). Qua trò chuyện B thuê bị cáo P vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu từ khu vực bờ kênh gần cầu B, thuộc xã M đến khu vực gần cầu T thuộc xã T, Thành H với giá tiền công 400.000 đồng/chuyến, bị cáo P và B thỏa thuận thời gian và địa điểm giao nhận thuốc lá điếu nhập lậu, nơi giao hàng xong thì ngày hôm sau sẽ quay lại địa điểm nhận thuốc lá điếu nhập lậu để nhận tiền công và nhận thuốc lá điếu nhập lậu để vận chuyển tiếp theo.

Khoảng 03 giờ ngày 23-12-2025, bị cáo P điều khiển xe mô tô biển số 70F1 - 449.25 đến khu vực bờ kênh gần cầu B, thuộc Ấp F, xã M, tỉnh Tây Ninh đợi. Khoảng 10 phút sau B điều khiển xe mô tô không rõ biển số chở thuốc lá điều nhập lậu đến giao cho bị cáo P là 2.000 bao thuốc lá điếu (gồm 1.500 bao hiệu ESSE màu xanh và 500 bao hiệu ESSE màu đen). Sau khi nhận thuốc lá xong bị cáo P điều khiển xe mô tô biển số 70F1 - 449.25 chở thuốc lá hướng về cầu T, Thành H để giao. Khi bị cáo P đến đoạn đường tỉnh lộ 838 thuộc ấp M, xã Đ, tỉnh Tây Ninh khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã Đ bắt quả tang cùng tang vật.

Tại Công văn số 243/CVTĐ-2025 ngày 25 tháng 12 năm 2025 của H1 xác định 02 mẫu cây thuốc lá điếu (được trích ra từ vật chứng tạm giữ của bị cáo P) có nhãn hiệu ESSE GOLDEN LEAF màu đen và nhãn hiệu ESSE CHANGE màu xanh, do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T gửi thẩm định là thuốc lá điếu nhập lậu.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 33/2026/HSST ngày 22-4-2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Tây Ninh, đã xử:

Tuyên bố bị cáo Võ Văn P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Văn P 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, khấu trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam từ ngày 23-12-2025 đến ngày 13-02-2026.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

* Nội dung kháng cáo:

Ngày 04 - 5 -2026 bị cáo P có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm;

Bị cáo P giữ nguyên kháng cáo xin giảm hình phạt, cho hưởng án treo lý do bị cáo nuôi con nhỏ, nuôi mẹ già 73 tuổi, gia đình có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của địa phương.

Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04-5-2026 bị cáo Võ Văn P có đơn kháng cáo. Qua xem xét đơn kháng cáo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo Võ Văn P thể hiện:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Khoảng 03 giờ ngày 23-12-2025, bị cáo P có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 70F1-449.25 đến khu vực B giáp ranh giới với Campuchia nhận 2.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm 1.500 bao hiệu ESSE màu xanh và 500 bao ESSE màu đen vận chuyển về Thành phố Hồ Chí Minh, mục đích để hưởng tiền công, trên đường vận chuyển bị kiểm tra bắt quả tang. Do đó, Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Tây Ninh xét xử bị cáo Võ Văn P về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại tại khu vực biên giới. Cần xử lý nghiêm bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Nhất là việc chấp hành pháp luật tại khu vực biên giới.

Xét kháng cáo của bị cáo P: yêu cầu giảm hình phạt, cho hưởng án treo, thấy rằng: bị cáo P biết rõ thuốc lá điếu nhập lậu bị nghiêm cấm vận chuyển nhưng vẫn cố ý thực hiện để hưởng tiền công 400.000đ/1chuyến. Nhân thân bị cáo xấu, đã 2 lần bị kết án về tội phạm ma túy. Số lượng vận chuyển 2.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu là trên mức khởi điểm khung, mức án 01 năm tù là phù hợp, không nặng. Tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương là gia đình có hoàn cảnh khó khăn, tình tiết này đã được cấp sơ thẩm xem xét, không phải là tình tiết mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Bị cáo P phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn P.

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 33/2026/HSST ngày 22-4-2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Tây Ninh.

2. Tuyên bố bị cáo Võ Văn P phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Võ Văn P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 25-12-2025 đến ngày 13-02-2026.

3. Án phí: Bị cáo P phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ