vanban.org

Bản án 140/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/04/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Chí H.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Chí H được ly hôn với bà Vo, My Hanh T. Về con chung: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Huỳnh Chí Hùng - Vo, My Hanh Thi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Chí H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 28- 4 - 2025
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát

2/ Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ánh Tuyết – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án thụ lý số 321/2023/TLST-HNGĐ ngày 28/11/2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1309/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5398/2025/QĐST-HNGĐ ngày 02/4/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Huỳnh Chí H, sinh năm 1978

Địa chỉ: Số 6 Nguyễn A, Phường P, Quận N, Thành phố H

Bị đơn: Bà Vo, My Hanh T, sinh năm 1983

Địa chỉ: 1885 West 65th St, Cleveland, Ohio 44102, USA.

( Các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nguyên đơn ông Huỳnh Chí H trình bày:

Ông và bà Vo, My Hanh T tự nguyện kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 122 do Ủy ban nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/10/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống chung với nhau được một thời gian ngắn thì bà Vo, My Hanh T trở về Hoa Kỳ sinh sống và làm việc, còn ông vẫn sống ở Việt Nam. Bà Vo, My Hanh T đã làm thủ tục để bảo lãnh ông sang Hoa Kỳ để đoàn tụ gia đình nhưng hồ sơ không được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận. Vợ chồng liên lạc với nhau chủ yếu qua điện thoại, email, nhưng chỉ được một thời gian thì liên lạc thưa dần, từ năm 2019 đến nay thì không còn liên lạc với nhau nữa. Hiện nay hai bên đã sống ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, khả năng đoàn tụ không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Vo, My Hanh T để có điều kiện ổn định cuộc sống.

Con chung: Không có

Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tòa án không thể tiến hành hòa giải đoàn tụ được vì bà Vo, My Hanh T đang cư trú tại Hoa Kỳ.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

Ông Huỳnh Chí H và bà Vo, My Hanh T đều vắng mặt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông Huỳnh Chí H, cho ông Huỳnh Chí H được ly hôn với bà Vo, My Hanh T, về con chung, tài sản chung và nợ chung ông Huỳnh Chí H khai không có nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông Huỳnh Chí H đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh có đơn xin ly hôn với bà Vo, My Hanh T hiện đang sinh sống tại Hoa Kỳ. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 28, Điều 37, Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Huỳnh Chí H tham gia phiên tòa lần thứ nhất vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 02/4/2025, lần hai vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 28/4/2025 nhưng ông Huỳnh Chí H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Đối với bà Vo, My Hanh T, Tòa án đã tiến hành thủ tục ủy thác tư pháp tống đạt Thông báo về việc thụ lý, ngày giờ mở phiên họp, phiên tòa giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 321/TB-TLVA ngày 28/11/2023 cho bà Vo, My Hanh T theo Công văn số 1011/TTTPDS-TA30 ngày 18/12/2023 đề nghị tống đạt văn bản trên cho bà Vo, My Hanh T theo quy định của pháp luật. Theo Công văn số 196/CH-BTP ngày 31/01/2024 của Bộ Tư pháp thì Bộ Tư pháp đã chuyển hồ sơ ủy thác nêu trên cho Công ty ABC Legal, Hoa Kỳ. Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được văn bản số 2056/BTP-PLQT đề ngày 18/7/2024 thông báo về kết quả ủy thác tư pháp cho bà Vo, My Hanh T, Cơ quan có thẩm quyền của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ không thực hiện được ủy thác nêu trên. Tòa án đã có Công văn số 8788/TAND-CV ngày 23/10/2024 gửi Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ và Thông báo về việc thông báo thông qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài tuyền hình Trung ương số 15598/TB-TA ngày 23/10/2024 về việc giải quyết vụ án ly hôn cho bà Vo, My Hanh T để có cơ sở giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, đến nay không thấy bà Vo, My Hanh T có thông tin phản hồi. Tòa án đã mở phiên tòa xét xử vụ án lần thứ nhất vào lúc14 giờ 00 phút ngày 02/4/2025 nhưng do bà Vo, My Hanh T vắng mặt nên phải hoãn phiên tòa, đồng thời ấn định thời gian mở lại phiên tòa xét xử vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 28/4/2025. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bà Vo, My Hanh T vẫn tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.

Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 122 do Ủy ban nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 04/10/2017 thì quan hệ hôn nhân của ông Huỳnh Chí H và bà Vo, My Hanh T là hợp pháp.

Theo nguyên đơn trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng sống chung với nhau được một thời gian ngắn thì bà Vo, My Hanh T trở về Hoa Kỳ sinh sống và làm việc, còn ông H vẫn sống ở Việt Nam. Bà Vo, My Hanh T đã làm thủ tục để bảo lãnh ông H sang Hoa Kỳ để đoàn tụ gia đình nhưng hồ sơ không được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận. Vợ chồng liên lạc với nhau chủ yếu qua điện thoại, email, nhưng chỉ được một thời gian thì liên lạc thưa dần, từ năm 2019 đến nay thì không còn liên lạc với nhau nữa. Hiện nay hai bên đã sống ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Về phía bà Vo, My Hanh T, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp và niêm yết, công khai thông báo văn bản tố tụng trên công thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kỳ và Thông báo về việc thông báo thông qua kênh dành cho người nước ngoài của Đài phát thanh hoặc Đài tuyền hình Trung ương, thông báo ngày giờ mở phiên tòa xét xử cho bà Vo, My Hanh T theo quy định pháp luật nhưng không có phản hồi, cũng không có mặt tại phiên tòa. Điều này chứng tỏ bà Vo, My Hanh T không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nữa. Về phía ông Huỳnh Chí H xác định không còn tình cảm với bà Vo, My Hanh T nên dứt khoát xin ly hôn.

Xét thấy mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi vợ chồng thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau. Đây cũng là tình cảm và nghĩa vụ của vợ chồng với nhau và được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nay ông H xác định tình cảm giữa bà và bà Vo, My Hanh T không còn, cũng không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó ông Huỳnh Chí H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với bà Vo, My Hanh T là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Ông Huỳnh Chí H khai không có nên không xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Huỳnh Chí H khai không có nên không xét.

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông Huỳnh Chí H phải chịu theo quy định pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Ông Huỳnh Chí H và bà Vo, My Hanh T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 262, Điều 273, Điều 477 và 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 122, Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Chí H.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Chí H được ly hôn với bà Vo, My Hanh T.

- Về con chung: Không có.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

2. Về án phí và thi hành án: Thi hành án dưới sự giám sát của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 (ba trăm ngàn) đồng ông Huỳnh Chí H phải chịu nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông Huỳnh Chí H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000975 ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Huỳnh Chí H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Ông Huỳnh Chí H được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Bà Vo, My Hanh T có quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

4. Trườ ng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ