vanban.org

Bản án 140/2025/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 26/06/2025 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí C.

Hủy Thông báo số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 28/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "ông Nguyễn Chí Công khởi kiện VPĐK tỉnh"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí C.
  • Căn cứ chính? Điều 131 Luật Đất đai; Điều 133 Luật Đất đai; Điều 193 Luật Tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2025/HC-ST
Ngày: 26-6-2025
V/v khiếu kiện quyết định
hành chính trong lĩnh
vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lộc, ông Phạm Văn Trịnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 125/2025/TLST-HC ngày 03 tháng 4 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2025/QĐXXST-HC ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Chí C, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Khu phố D, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Thị Thúy H, sinh năm 1977; Địa chỉ: khu phố G, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B

Địa chỉ: Khu dân cư B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chi nhánh Văn phòng Đ

Địa chỉ: Số C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

2. Ủy ban nhân dân thành phố P

Địa chỉ: Số D T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

3. Ông Trương Công L, sinh năm 1986;

4. Bà Nguyễn Thị Phương M, sinh năm 1981;

Cùng địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt: Bà Ngô Thị Thúy H. Các đương sự còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Nguyễn Chí C và người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ông Nguyễn Chí C có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Trương Công L, bà Nguyễn Thị Phương M, trú tại địa chỉ: Thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thửa đất số 436, tờ bản đồ số 17, diện tích đất 153,4 m², đất ở tại nông thôn, tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO749558 vào sổ cấp Giấy chứng nhận CS07044 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 19/10/2018. Hai bên có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1 công chứng ngày 20/11/2020, số công chứng 11445 quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD.

Ngày 25/02/2025 ông Nguyễn Chí C có nộp hồ sơ đề nghị làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng Đ để làm thủ tục đăng ký chuyển quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên. Ngày 28/02/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành văn bản số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT “Về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Chí C”. Nội dung thông báo số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT cho rằng: “Thửa đất của ông đăng ký chuyển quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 436, tờ bản đồ số 17, diện tích đất 153,4 m², đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất: Thôn X, xã P, thành phố P, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO749558 cấp ngày 19/10/2018. Qua kiểm tra, phần diện tích đất ở tại nông thôn của ông có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 5131/QĐ-UBND ngày 21/08/2018 cho ông Trương Công L) nhưng không phù hợp quy hoạch (Đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Do đó, sau khi có ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông được biết và cùng phối hợp thực hiện”.

Với những lý do trên, ông Nguyễn Chí C cho rằng Chi nhánh Văn phòng Đ hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất, không giải quyết hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Chí Công N chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng ông Trương Công L tại Thông báo số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 28/02/2025 là trái quy định pháp luật về đất đai, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Chí C.

Do đó ông Nguyễn Chí C khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận giải quyết:

- Hủy Thông báo số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 28/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Chí C.

- Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc đăng ký chuyển quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Chí C trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO749558 theo quy định của pháp luật.

Người bị kiện Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B có ý kiến tại văn bản số 1492/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 02/6/2025:

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí C, Chi nhánh Văn phòng Đ đã có Công văn số 4202/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 29/5/2025 cung cấp ý kiến và toàn bộ hồ sơ, tài liệu có liên quan cho Tòa án. Văn phòng Đăng ký đất đai thống nhất ý kiến tại Công văn trên và không có hồ sơ, tài liệu nào khác để cung cấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Chi nhánh Văn phòng Đ có ý kiến tại văn bản 4202/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 29/5/2025:

Ngày 25/02/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Chí C tại biên nhận số 820/BPTNTKQ.

Ông Nguyễn Chí Công N chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông Trương Công L và bà Nguyễn Thị Phương M đối với thửa đất số 436, tờ bản đồ số 17, diện tích 153,4 m² đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X, xã P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 749558 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 19/10/2018.

Thửa đất số 436, tờ bản đồ số 17 có nguồn gốc do ông Trương Công L thực hiện hợp thửa đất số 420, tờ 17 theo Giấy chứng nhận số CI 366998 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 09/10/2017 và thửa đất số 328, tờ bản đồ số 17 theo Giấy chứng nhận số CC 797072 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 03/02/2016 theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 509-2017 thành thửa đất số 422 theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 510-2017; đồng thời tách thửa đất số 422 thành 03 (ba) thửa đất, trong đó có thửa đất số 425, diện tích 373,9 m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số CK 959289 ngày 16/01/2018. Sau đó, ông L tách thửa đất số 425 thành 03 (ba) thửa đất theo Mảnh chỉnh lý bản đồ địa chính số 466-2018, trong đó có thửa đất số 436, diện tích 153,4 m² được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận số CO 749558 ngày 19/10/2018.

Thửa đất số 420, tờ 17 theo Giấy chứng nhận số CI 366998 có nguồn gốc do UBND thành phố P ban hành Quyết định số 5131/QĐ-UBND ngày 21/8/2017 về việc cho phép ông Trương Công L được chuyển mục đích sử dụng đất. Tuy nhiên, qua rà soát thì phần diện tích đất ở tại nông thôn được UBND thành phố P cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 5131/QĐ-UBND ngày 21/8/2017 không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B ban hành Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023: “...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đổi với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị để xuất gửi Sở T.”

Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.

Chi nhánh Văn phòng hiện vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 28/02/2025, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Chí C. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Nguyễn Chí C được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

2. Ủy ban nhân dân thành phố P không có ý kiến trong vụ án:

3. Ông Trương Công L và bà Nguyễn Thị Phương M là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí C.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí C, hủy Thông báo số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 28/02/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố P. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về việc vắng mặt người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, ông Nguyễn Chí C, ông Trương Công L và bà Nguyễn Thị Phương M, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ và UBND thành phố P vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng này theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.

Về quyền khởi kiện: Ngày 20/11/2020, ông Trương Công L, bà Nguyễn Thị Phương M và ông Nguyễn Chí C thống nhất ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Chí C toàn bộ quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 436, tờ bản đồ số 17, diện tích 153,4m2, đất ở tại nông thôn theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 749558 cấp ngày 19/10/2018. Hợp đồng chuyển nhượng được công chứng tại Văn phòng C1 theo số công chứng 11445 quyển số 12TP/CC-SCC/HĐGD ngày 20/11/2020. Ngày 25/02/2025, ông C đã nộp hồ sơ đăng ký nhận chuyển quyền sử dụng đất theo Biên nhận số 820/BPTNTKQ ngày 25/02/2025 tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân thành phố P.

Tuy nhiên, ngày 28/02/2025, Chi nhánh Văn phòng Đ đã ban hành Thông báo số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT-ĐKCG hoàn trả hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông C. Việc trả hồ sơ, từ chối đăng ký biến động sang tên ông C đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông C nên ông C có quyền khởi kiện đối với Thông báo số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT-ĐKCG ngày 28/02/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

Về thời hiệu khởi kiện: Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 28/02/2025. Đến ngày 11/3/2025, ông Nguyễn Chí C nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] khoản 1 Điều 45 Luật đất đai năm 2024 quy định: “Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư và trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 124 và điểm a khoản 4 Điều 127 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;

d) Trong thời hạn sử dụng đất;

đ) Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.”

[4.2 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Trương Công L, bà Nguyễn Thị Phương M và ông Nguyễn Chí C phù hợp với quy định của pháp luật, thửa đất được chuyển nhượng có đủ tất cả các điều kiện nêu trên và thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 Điều 131, điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024. Việc đăng ký biến động sang tên người nhận tặng cho quyền sử dụng đất chỉ thay đổi tên người sử dụng thửa đất, không làm thay đổi các thông tin khác đối với thửa đất.

Chi nhánh Văn phòng Đ cho rằng Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P không phù hợp với quy hoạch của Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B nên không giải quyết hồ sơ đăng ký biến động của ông Nguyễn Chí C. Hội đồng xét xử xét thấy: Đến nay, Quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của UBND thành phố P chưa bị hủy bỏ, thu hồi, các thông tin về diện tích và mục đích sử dụng đất thể hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hoàn toàn phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc trả lại hồ sơ đăng ký biến động của Chi nhánh Văn phòng Đ tại Thông báo số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 28/02/2025 là không có căn cứ, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người khởi kiện nên người khởi kiện yêu cầu hủy bỏ thông báo nêu trên là có cơ sở. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí C như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về án phí: Do yêu cầu của người khởi kiện được chấp nhận nên người bị kiện phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ông Nguyễn Chí C được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;

- Khoản 1 Điều 45, khoản 1 Điều 131, điểm a khoản 1 Điều 133 Luật Đất đai năm 2024;

- Khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí C.

- Hủy Thông báo số 233/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 28/02/2025 của Chi

nhánh Văn phòng Đ.

- Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ phải thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc giải quyết hồ sơ đăng ký chuyển quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Chí C theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí hành chính sơ thẩm:

- Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hành chính sơ thẩm.

- Ông Nguyễn Chí C không phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Trả lại cho ông Nguyễn Chí C 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000672 ngày 31/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/6/2025); đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Cỡ chữ