- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN TRỌNG L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 140/2024/HS-ST Ngày 25 -6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Kim Lý;
Ông Lê Thành Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng L (X), sinh năm: 1987 tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Khu phố L, phường AT, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương; chỗ ở: Khu phố L, phường AT, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và có 01 con chung sinh năm 2010; tiền sự: Không.
Tiền án:
- Tại Bản án số 24/2013/HSST ngày 09/5/2013, bị cáo Nguyễn Trọng L bị Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 18/12/2012. L chấp án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương đến ngày 21/6/2013 thì chấp hành xong, chưa chấp hành xong phần án phí.
- Tại Bản án số 46/2014/HSST ngày 04/6/2014, bị cáo Nguyễn Trọng L bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 06/12/2012. L chấp án tại Trại giam Xuyên Mộc đến ngày 17/7/2015 thì chấp hành xong, đã chấp hành xong án phí ngày 02/10/2014.
- Tại Bản án số 17/2016/HSST ngày 25/5/2016, bị cáo Nguyễn Trọng L bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 14/01/2016. L chấp án tại Trại giam Châu Bình đến ngày 15/7/2017 thì chấp hành xong, đã chấp hành xong phần án phí ngày 01/12/2016.
- Tại Bản án số 98/2019/HSST ngày 27/6/2019, bị cáo Nguyễn Trọng L bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với hành vi thực hiện ngày 13/12/2018. L chấp án tại Trại giam An Phước đến ngày 13/3/2023 thì chấp hành xong, đã chấp hành xong phần án phí ngày 27/6/2019.
Nhân thân:
- Tại Bản án số 39/2004/HSST ngày 03/8/2004, bị cáo Nguyễn Trọng L bị Tòa án nhân dân huyện (nay là thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” đối với hành vi thực hiện ngày 15/12/2003, bị cáo kháng cáo. Tại Bản án số 91/2004/HSPT ngày 08/12/2004 bị cáo Nguyễn Trọng L bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. L chấp án tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bình Dương đến ngày 19/7/2005 thì chấp hành xong, đã chấp hành xong phần án phí ngày 03/5/2005).
- Ngày 23/5/2006, bị cáo Nguyễn Trọng L bị Công an xã AT, huyện Bến Cát (nay là phường AT, thành phố Bến Cát), tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính phạt tiền 300.000 đồng đối với hành vi dùng hung khí đánh người.
- Ngày 29/6/2006, bị cáo Nguyễn Trọng L bị Công an xã AT, huyện Bến Cát (nay là phường AT, thành phố Bến Cát), tỉnh Bình Dương xử phạt hành chính phạt tiền 300.000 đồng đối với hành vi dùng hung khí đánh người.
- Ngày 10/01/2007, bị cáo Nguyễn Trọng L bị Ủy ban nhân dân xã AT, huyện Bến Cát (nay là phường AT, thành phố Bến Cát), tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời gian giáo dục 06 tháng kể từ ngày 10/01/2007 đến ngày 10/7/2007.
- Ngày 10/12/2007, bị cáo Nguyễn Trọng L bị Ủy ban nhân dân xã AT,
huyện Bến Cát (nay là phường AT, thành phố Bến Cát), tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, thời gian giáo dục 06 tháng kể từ ngày 10/12/2007 đến ngày 10/6/2008.
- Ngày 07/7/2008, bị cáo Nguyễn Trọng L bị Tòa án nhân dân huyện (nay
thành phố) Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” đối với hành vi thực hiện ngày 11/3/2008. L chấp án tại Trại giam An Phước đến ngày 11/3/2009 thì chấp hành xong, đã chấp hành xong phần án phí ngày 22/8/2008.
- Bị hại: Ông Trịnh Minh Q, sinh năn 1997; địa chỉ thường trú: Ấp HK, xã VH, huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Khu Dân cư K, thuộc khu phố KĐ, phường AĐ, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương – vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 04/11/2023, L đang ở nhà của mình thì nảy sinh ý định đi tìm tài sản trộm cắp đem bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên đi bộ tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 05/11/2023, L đi đến Khu dân cư K, cạnh đường lộ ĐT 748, thuộc khu phố KĐ, phường AĐ, thành phố Bến Cát thì đi vào trong tìm tài sản. Khoảng 10 phút sau, L phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Prour, biển số 83H4-1620 của anh Trịnh Minh Q là bảo vệ của khu dân cư, đang đậu cạnh đường nội khu, gần khu vực nhà máy xử lý nước thải của khu dân cư, chìa khóa cắm sẵn trên xe, còn anh Q đang nằm ngủ trên võng cách xe mô tô biển số 83H4-1620 khoảng 02m, nên L lén lút đi đến dùng chân dậm cần số để không gây ra tiếng động rồi dắt xe đi. Khi dắt xe cách chỗ anh Q nằm ngủ khoảng 05m thì L dừng lại, bật chìa khóa xe, đề máy. Nhưng do bộ phận đề bị hỏng nên L dùng chân đạp cần khởi động xe thì gây tiếng động. Anh Q thức dậy phát hiện L lấy trộm xe nên chạy đến ôm L lại làm L và xe bị ngã xuống đường. Anh Q chạy đến chỗ võng nằm để lấy cây dùi cui thì L đứng dậy dựng xe mô tô biển số 83H4-1620 lên rồi ngồi lên xe tiếp tục đạp cần khởi động máy nhưng không được. Thấy vậy, anh Q tiếp tục chạy đến ôm vật ngã L văng ra khỏi xe thì L vùng đứng dậy tiếp tục đến chỗ xe mô tô biển số 83H4-1620 nhằm dắt xe đi tiếp, nhưng bị anh Q tiếp tục vật ngã xuống đường. Lúc này, L đứng dậy bỏ chạy bộ ra hướng bờ sông Thị Tính. Anh Q liền gọi điện thoại cho anh Nguyễn Đức H (sinh năm 1970, nơi thường trú: Khu X7, xã XL, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) cùng làm bảo vệ khu dân cư đến hỗ trợ truy bắt L. Sau đó, anh H và anh Q truy tìm thì phát hiện L đang bơi dọc theo bờ sông Thị Tính. Khi L bơi được khoảng 700m thì đuối sức nên đi lên bờ thì bị anh Q và anh H bắt giữ giao Công an phường AĐ. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.
Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Prour, biển số 83H4-1620
Theo Bản kết luận định giá tài sản ngày 10/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bến Cát, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Prour, biển số 83H4-1620 trị giá 2.900.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Trọng L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của L phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
* Về xử lý vật chứng: Xe mô tô nhãn hiệu Prour, biển số 83H4-1620 do chị Trịnh Thị TH (sinh năm 1993, nơi thường trú: Ấp HK, xã VH, thành phố Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng) là chị ruột của anh Trịnh Minh Q đứng tên đăng ký. Chị TH cho anh Q mượn xe để làm phương tiện đi lại. Ngày 14/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Cát giao trả xe mô tô biển số 83H4-1620 cho anh Q.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Trịnh Minh Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Bản Cáo trạng số 147/CT-VKSBC ngày 29/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Trọng L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phần tranh luận:
- Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tại Cáo trạng số 147/CT-VKSBC ngày 29/5/2024 đối với bị cáo Nguyễn Trọng L về tội: “Trộm cắp tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L từ 02 năm 6 tháng đến 03 năm tù. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã giải quyết xong.
- Bị hại vắng mặt tại phiên toà nhưng quá trình điều tra bị hại không yêu cầu gì đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Trọng L: Bị cáo nhận thức hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nên đồng ý với quyết định truy tố của Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ. Do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 05/11/2023, tại Khu dân cư K, cạnh đường lộ ĐT 748, thuộc khu phố KĐ, phường AĐ, thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Trọng L đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu Prour, biển số 83H4-1620 trị giá 2.900.000 đồng của anh Trịnh Minh Q nhằm mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng thì bị bắt giữ cùng tang vật.
Bị cáo Nguyễn Trọng L đã tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới nên đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bản Cáo trạng số 147/CT-VKSBC ngày 29/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát truy tố bị cáo với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự công cộng tại địa phương. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo Luật xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, thể hiện bản chất lười biếng, tham lam, tư lợi, bằng việc để có tiền tiêu xài và ma tuý sử dụng bị cáo đi trộm cắp tài sản người khác. Bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, bị cáo có nhiều tiền án, tiền sự và nhân thân nhiều lần đã từng vi phạm pháp luật. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo có ông nội là liệt sỹ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát về việc áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì nên không đề cập đến.
Về vật chứng: Đã xử lý xong.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Căn cứ vào Điều 136, Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/11/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: Đã giải quyết xong.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Bến Cát; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Chi cục THADS thành phố Bến Cát; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HSVA, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |