vanban.org

Bản án 140/2024/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 22/10/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Công L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phạm Công L 32 (Ba mƣơi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 25/4/2024. * Về vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Công L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HĐ
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

––––––––––––––––––
Bản án số: 140 /2024/HS-ST;
Ngày 22/10/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HĐ- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Diệu Kim.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Lưu; Bà Nguyễn Thị Thêm.

-Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Luyên - Thư ký Tòa án .

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hà - Kiểm sát viên

Ngày 22/10/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 145/2024/TLST-HS ngày 03/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2024/QĐXXST-HS ngày 10/10/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Công L, sinh năm 1977; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: Thôn An Trai, xã Vân Canh, huyện HĐ, TP. Hà Nội; trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Công H (đã chết) và bà Nguyễn Thị M (đã chết); có vợ và 01 con sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 331/2015/HSST ngày 25/6/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt Phạm Công L 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Đã chấp hành xong hình phạt ngày 09/10/2019, đã được xóa án tích).

Bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/4/2024, hiện bị đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I - Công an thành phố Hà Nội, có mặt.

* Ngƣời có quyền L nghĩa vụ, liên quan đến vụ án:

Trần Hữu H, sinh năm 1989; HKTT: Thôn 4, xã Yên Sở, huyện HĐ, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Thôn 7, xã Yên Sở, huyện HĐ, thành phố Hà Nội. vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 10 giờ 30 ngày 25/4/2024, Phạm Công L đang ở nhà tại thôn An Trai, xã Vân Canh, huyện HĐ, thành phố Hà Nội thì Trần Hữu H (Sinh năm:1989, HKTT: thôn 4, xã Yên Sở, huyện HĐ, TP Hà Nội) sử dụng số điện thoại 0364.825.889 gọi đến số điện thoại 0983.780.950 của L. Qua điện thoại H hỏi mua ma túy Heroin của L với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), L đồng ý và hẹn H ra khu vực khu đô thị HUD thuộc xã Vân Canh, huyện HĐ, thành phố Hà Nội để giao dịch. Trần Hữu H đã sử dụng Zalo “Nhà bao việc” để nhắn tin với Zalo “Công L” của Phạm Công L trao đổi thông tin số tài khoản ngân hàng của L để chuyển khoản tiền mua ma túy. Sau đó, H đã chuyển số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) từ số tài khoản 660731616 ngân hàng MBBank của H đến số tài khoản 000006504184 tại ngân hàng SeaBank của L. Sau khi nhận được tiền, L đã mang theo 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroin (số ma túy này L mua của một người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực ngã tư Nhổn thuộc phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội) để đi giao cho H như đã thỏa thuận. Khi L đi đến khu vực đường 70 thuộc thôn An Trai, xã Vân Canh, huyện HĐ, thành phố Hà Nội thì bị lực lượng Công an xã Kim Chung phát hiện, bắt quả tang.

* Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng, 01 (một) điện thoại OPPO A3s màu đen, kiểu máy CPH1805 bên trong chứa sim số 0983780950, Số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) (Thu giữ của Phạm Công L); 01 (một) điện thoại Xiaomi HyperOS màu đen bên trong chứa sim số 0364825889 (thu giữ của Trần Hữu H).

- Ngày 25/4/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện HĐ ra Quyết định trưng cầu giám định số 1095 đề nghị phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội giám định đối với số ma túy thu giữ được.

*Tại Bản kết luận giám định số 3138 ngày 4/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy bạc màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,292 gam

- Ngày 03/5/2024, Cơ quan điều tra có Công văn số 527/CSĐT- KTMT gửi Công ty Cổ phần VNG để thu giữ thông tin chủ tài khoản, nôi dung tin nhắn giữa tài khoản Zalo “Công L” và tài khoản Zalo “Nhà Bao Việc”. Ngày 20/6/2024, Công ty Cổ phần VNG có công văn số 482/2024/CVZA-VNG trả lời: Công ty VNG không lưu thông tin nội dung tin nhắn tài khoản Zalo “Công L” và “Nhà Bao Việc” như công văn đã nêu.

Ngày 21/8/2024, Tập đoàn Công nghiệp Viễn thông Quân đội Viettel có công văn số 9831/CNVTQĐ-CTr trả lời: Chủ thuê bao số điện thoại 0364.825.889 là Trần Hữu H (Sinh năm: 1989, HKTT: thôn 4, xã Yên Sở, huyện HĐ, thành phố Hà Nội), chủ thuê bao số điện thoại 0983.780.950 là ông Nguyễn Văn Lâm (Sinh năm: 1951, HKTT: phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Qua xác M Công an phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cung cấp ông Nguyễn Văn L (có lý lịch như trên) đã chết nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xử lý.

Ngày 3/5/2024 Cơ quan điều tra có Công văn số 629 CSĐT/KT-MT gửi ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội – MBBank đề nghị cung cấp thông tin đối với số tài khoản 660731616. Ngày 31/7/2024 ngân hàng MBBank có văn bản trả lời: chủ số tài khoản 660731616 là Trần Hữu H (sinh năm: 1989, HKTT: thôn 4, xã Yên Sở, huyện HĐ, thành phố Hà Nội).

Ngày 3/5/2024 Cơ quan điều tra có Công văn số 528 CSĐT/KT-MT gửi ngân hàng Thương mại Đông Nam Á – SeaBank đề nghị cung cấp thông tin đối với số tài khoản 000006504184. Ngân hàng MBBank có văn bản trả lời: chủ số tài khoản 000006504184 là Phạm Công L (sinh năm: 1977, HKTT: xóm 1, thôn An Trai, xã Vân Canh, huyện HĐ, thành phố Hà Nội).

Đối với hành vi của Trần Hữu H, ngày 25/4/2024 H đã chuyển khoản số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) cho Phạm Công L để mua ma túy Heroin. Tuy nhiên do chưa nhận được ma túy của L nên hành vi của Trần Hữu H không cấu thành tội “Tàng trữ trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249, BLHS năm 2015. Qua xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Trần Hữu H có kết quả dương tính với ma túy Heroin. Ngày 16/9/2024, Công an huyện HĐ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 000434/QĐ-XPHC đối với Trần Hữu H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho L tại khu vực ngã tư Nhổn thuộc phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, L khai không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Qua xác M Công an phường Tây Tựu, quận Bắc Từ Liêm cung cấp không xác định được đối tượng cụ thể, nên Cơ quan CSĐT không có căn cứ để điều tra mở rộng làm rõ.

Tại bản Cáo trạng số 135/CT-VKSHĐ ngày 27/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Phạm Công L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng là ma túy thu giữ của bị cáo; Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại OPPO A3s và số tiền 300.000đ tiền của bị cáo Phạm Công L; 01 điện thoại điện thoại Xiaomi HyperOS thu giữ của Trần Hữu H.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

* Lời nói sau cùng, bị cáo thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được H mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện HĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã khai báo toàn bộ hành vi phạm tội. Các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thu thập được, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 25/4/2024, tại đường 70 thuộc thôn An Trai, xã Vân Canh, huyện HĐ, thành phố Hà Nội, Phạm Công L có hành vi mang theo 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroin, khối lượng: 0,292 gam nhằm mục đích bán trái phép cho Trần Hữu H để H L nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác Công an xã Kim Chung, phối hợp với Công an xã Vân Canh tuần tra kiểm soát phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt trong tình hình hiện nay, tệ nạn ma tuý đang ngày càng gia tăng. Ma tuý gây ảnh H tới sự phát triển lành mạnh của con người, làm hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động và là một trong những nguyên nhân gây ra các tội phạm khác; hành vi của các bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma tuý là hành vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện.

Viện kiểm sát nhân dân huyện HĐ, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

.Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo đã bị Tòa án xét xử và kết án 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” , mặc dù bị cáo đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo đã được nhà nước giáo dục về hành vi nhưng không có ý thức tu dưỡng bản thân, coi thường pháp luật.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo thành khẩn khai báo nên được H tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và góp phần răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.

. Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5, Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:

- Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật cấm lưu hành, do vậy cho tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) thu giữ của bị cáo là tiền mua bán ma tuý, cho tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với: 01 (một) điện thoại OPPO A3s, bên trong chứa sim số 0983780950 của bị cáo và 01 (một) điện thoại Xiaomi HyperOS, bên trong chứa sim số 0364825889 thu giữ của Trần Hữu H là công cụ, phương tiện phạm tội nên cho tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định .

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền L nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1, Điều 251; điểm s, khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Công L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Phạm Công L 32 (Ba mƣơi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam 25/4/2024.

* Về vật chứng và biện pháp tƣ pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng;

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại OPPO A3s màu đen đã qua sử dụng, số IMEI1: 869347030690015, số IMEI2: 869347030690007, 01 thẻ sim lắp bên trong điện thoại OPPO A3s có seri 8984048000311461879; 01 (một) điện thoại Xiaomi HyperOS đã qua sử dụng, số IMEI1: 863107069987401, số IMEI2: 863107069987419, 01 thẻ sim lắp bên trong điện thoại Xiaomi HyperOS có seri 8984048000388955679 và số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện HĐ, TP. Hà Nội; có tình trạng, đặc điểm như Biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 01/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an huyện HĐ, TP. Hà Nội với Chi cục Thi hành án dân sự huyện HĐ, TP. Hà Nội).

* Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền L, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ