- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn và nuôi con"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T về việc tranh chấp “ly hôn và nuôi con".
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 140/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31-7-2023 V/v tranh chấp “ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Trần Nguyên Vỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Hồng Hải;
2. Ông Nguyễn Công Tài.
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Yến, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: bà Hồ Minh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp “ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 70/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: chị Hoàng Thị T, sinh năm 1987. Có mặt.
2. Bị đơn: anh Trần Như Tr, sinh năm 1982. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Tr tự nguyện kết hôn vào năm 2010, được Ủy ban nhân dân xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cấp giấy chứng nhận kết hôn số 56 ngày 03/8/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không cùng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi nhau. Chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Tr.
Về con chung: có 02 cháu tên Trần Như Hoàng M, sinh ngày 22/02/2011 và Trần Như Hoàng G, sinh ngày 14/4/2014. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh Tr cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Tr nhưng anh vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn và nuôi con của chị T.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn và nuôi con của chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: anh Tr cư trú tại thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Chị T yêu cầu được ly hôn và nuôi con chung nên quan hệ pháp luật giải quyết là tranh chấp “ly hôn và nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam theo khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt.
. Về nội dung vụ án:
. Về quan hệ hôn nhân: chị T và anh Tr tự nguyện kết hôn, được Ủy ban nhân dân xã Quế Phú, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 56 ngày 03/8/2010 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, giữa chị T và anh Tr xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị T trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị T cương quyết xin ly hôn. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Tr nhưng anh vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị T. Điều đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị T, anh Tr đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T.
. Về con chung: chị T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con. Anh Tr vắng mặt và không gửi văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu nuôi con của chị T. Các cháu M, G đều có nguyện vọng được ở với chị T. Việc yêu cầu nuôi con của chị T là tự nguyện. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, giao các cháu M, G cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở; các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
. Về tài sản chung và nợ chung: không có.
. Về án phí: chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T về việc tranh chấp “ly hôn và nuôi con".
1. Về quan hệ hôn nhân: cho ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Trần Như Tr.
2. Về con chung: giao các cháu Trần Như Hoàng M, sinh ngày 22/02/2011 và Trần Như Hoàng G, sinh ngày 14/4/2014 cho chị T trực triếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Tr có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị T phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà chị đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004970 ngày 15/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/7/2023), đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Quảng Nam - VKSND huyện Quế Sơn; - Chi cục THADS huyện Quế Sơn; - UBND xã Quế Phú (Giấy CNKH số 56 ngày 03/8/2010); - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trần Nguyên Vỹ |