- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giữa chị Lưu Thị Diểm T với anh Phan Thanh T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị Diểm T đối với anh Phan Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 140/2023/HNGĐ-ST Ngày: 28-8-2023 V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Đức Tâm
Ông Trương Văn Te
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 278/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lưu Thị Diểm T, sinh năm 1997
Hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh
Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã L, huyện N, tỉnh Đồng Nai
Chị T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 10/7/2023.
2. Bị đơn: Anh Phan Thanh T, sinh năm 1985
Hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: Ấp P, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Anh T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 23/8/2023.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Lưu Thị Diểm T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị trình bày:
Chị và anh Phan Thanh T kết hôn vào năm 2017, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/01/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Đến đầu năm 2020, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, thường xuyên cự cãi nên đã sống ly thân từ đó đến nay. Do xác định tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Phan Vĩnh P, sinh ngày 14/9/2017, hiện đang sống với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn anh Phan Thanh T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng theo bản tự khai anh trình bày:
Anh và chị Lưu Thị Diểm T kết hôn vào năm 2017, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/01/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống có hạnh phúc thời gian đầu. Đến đầu năm 2020, anh và chị T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị T có mối quan hệ với người đàn ông khác bên ngoài nên đã sống ly thân từ đó đến nay. Do xác định tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được nửa nên anh đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung là cháu Phan Vĩnh P, sinh ngày 14/9/2017, hiện nay đang sống với chị T. Khi ly hôn anh đồng ý để chị T được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P, anh không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Lưu Thị Diễm T đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Phan Thanh T chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lưu Thị Diểm T về việc ly hôn với anh Phan Thanh T. Về con chung: Giao con chung là cháu Phan Vĩnh P, sinh ngày 14/9/2017 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận. Về nợ chung: Chị T, anh T trình bày không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Lưu Thị Diểm T yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Phan Thanh T, cư trú tại ấp P, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre là vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Chị T và anh T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt chị T, anh T là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh T kết hôn vào năm 2017, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 17/01/2017 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Theo đó, chị T cho rằng sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Đến đầu năm 2020, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, thường xuyên cự cãi nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Anh T cũng thừa nhận cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn không còn hàn gắn được nữa. Xét thấy, Tòa án đã tiến hành hòa giải để chị T và anh T đoàn tụ nhưng chị T, anh T không đến tham dự và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, đã chứng tỏ anh chị không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, chị T và anh T không còn chung sống với nhau, mỗi người có một cuộc sống riêng. Anh T có ý kiến đồng ý ly hôn với chị T. Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh T là phù hợp.
Về con chung: Chị T và anh T có 01 con chung là cháu Phan Vĩnh P, sinh ngày 14/9/2017. Chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P. Xét thấy, cháu P hiện nay đang sống chị T và anh T đồng ý để chị T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu P. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt của cháu P, tránh làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của cháu, cần giao cháu P cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Căn cứ theo quy định tại Điều 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình quy định người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Theo quy định trên thì chị T là người trực tiếp nuôi con nên chị được quyền yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nhưng chị không yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung: Chị T và anh T tự thỏa thuận, không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị T và anh T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm chị T phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 147, 227, 228, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lưu Thị Diểm T đối với anh Phan Thanh T.
Chị Lưu Thị Diểm T được ly hôn với anh Phan Thanh T.
2. Về con chung: Giao cháu Phan Vĩnh P, sinh ngày 14/9/2017 cho chị Lưu Thị Diểm T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu P đủ 18 tuổi có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân.
Ghi nhận việc chị Lưu Thị Diểm T tự nguyện không yêu cầu anh Phan Thanh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Anh Phan Thanh T được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về tài sản chung: Chị Lưu Thị Diểm T và anh Phan Thanh T tự thỏa thuận, không có tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Lưu Thị Diểm T và anh Phan Thanh T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lưu Thị Diểm T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005906 ngày 08/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre.
Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Giồng Trôm; - Chi cục THADS huyện G; - TAND tỉnh Bến Tre; - UBND xã L, huyện G; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Khắc Giang |