- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Bích Như đối với bị đơn Lê Quốc Sử.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 140/2023/DS-ST Ngày 07 - 12 - 2023 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYÊNH MỸ XUYÊN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Hiệp.
2. Bà Nguyễn Hồng Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023; về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 343/2023/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Bích Như, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Số 153, ấp Thạnh Lợi, thị trấn Mỹ Xuyên, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Lê Quốc Sử, sinh năm 1978;
Địa chỉ: Ấp Lương Văn Huỳnh, xã Ngọc Tố, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/9/2023, bản tự khai ngày 07/11/2023, biên bản hòa giải ngày 08/11/2023 và đơn xin vắng mặt ngày 08/11/2023, nguyên đơn bà Phan Bích Như trình bày: Nguyên ông Lê Quốc Sử mua thức ăn nuôi tôm của đại lý Bích Như do bà Phan Bích Như làm chủ. Từ năm 2020, ông Lê Quốc Sử nhiều lần mua nợ thức ăn nuôi tôm bên bà Phan Bích Như, đến ngày 01/7/2021 bà Phan Bích Như và ông Lê Quốc Sử chốt số tiền mua nợ, ông Lê Quốc Sử còn nợ bà Phan Bích Như số tiền là 226.588.000 đồng. Sau khi chốt số tiền nợ, bà Phan Bích Như đã nhiều lần yêu cầu ông Lê Quốc Sử thanh toán nhưng ông Lê Quốc Sử không thanh toán. Nay bà Phan Bích Như yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên giải quyết: Buộc ông Lê Quốc Sử thanh toán cho bà Phan Bích Như số tiền nợ gốc là 226.588.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 1%/tháng, tạm tính từ ngày 01/7/2021 đến 01/9/2023 là 59.000.000 đồng (gốc và lãi 285.588.000 đồng). Đồng thời, buộc ông Lê Quốc Sử thanh toán tiền lãi sau ngày 01/9/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ với lãi suất 1%/tháng.
2. Tại biên bản hòa giải ngày 08/11/2023 và tại phiên tòa bị đơn ông Lê Quốc Sử trình bày: Ông Lê Quốc Sử thừa nhận từ năm 2020 ông Lê Quốc Sử có mua thức ăn nuôi tôm của đại lý Bích Như do bà Phan Bích Như làm chủ. Quá trình mua bán thức ăn do đại lý cung cấp thức ăn nuôi tôm tới nhà ông Lê Quốc Sử. Khi giao hàng thì hai bên có ký sổ giao nhận. Ông Lê Quốc Sử thừa nhận chữ ký trong sổ do bà Phan Bích Như cung cấp là chữ ký của ông Lê Quốc Sử. Lý do ông Lê Quốc Sử ký tên là xác nhận việc đại lý của bà Phan Bích Như giao số lượng thức ăn cho ông Lê Quốc Sử. Ông Lê Quốc Sử thừa nhận tính đến ngày 01/7/2021, ông Lê Quốc Sử còn nợ tiền mua thức ăn nuôi tôm của bà Phan Bích Như là 226.588.000 đồng. Ông Lê Quốc Sử đồng ý thanh toán số tiền trên cho bà Phan Bích Như. Đối với phần tiền lãi thì ông Lê Quốc Sử xin bà Phan Bích Như giảm lãi. Đối với số tiền trên thì ông Lê Quốc Sử hiện tại không có khả năng thanh toán nên chưa thể thanh toán cho bà Phan Bích Như. Ông Lê Quốc Sử yêu cầu sau khi ông Lê Quốc Sử thanh toán hết số tiền nợ cho Ngân hàng thì ông Lê Quốc Sử sẽ thanh toán cho bà Phan Bích Như.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Phan Bích Như vắng mặt và không có ý kiến khác nên được xem nguyên đơn giữ nguyên nội dung và yêu cầu khởi kiện.
* Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ và chấp hành đúng pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, theo phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về tố tụng:
Theo đơn khởi kiện, từ năm 2020 nguyên đơn bà Phan Bích Như có bán nợ thức ăn nuôi tôm cho bị đơn ông Lê Quốc Sử nhiều lần, tính đến ngày 01/7/2021 hai bên chốt nợ bị đơn Sử còn nợ số tiền mua nợ là 226.588.000 đồng, nguyên đơn Như nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán nhưng bị đơn không thanh toán, nguyên đơn Phan Bích Như khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn Lê Quốc Sử thanh toán số tiền mua nợ 226.588.000 đồng và yêu cầu trả lãi từ ngày 01/7/2021 đến khi thanh toán xong khoản nợ trên với lãi suất 1%/tháng. Khi thụ lý vụ án, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 430 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong vụ án bị đơn Lê Quốc Sử cư trú tại ấp Lương Văn Huỳnh, xã Ngọc Tố, huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, vụ án được giải quyết theo thủ tục sơ thẩm và không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần ủy thác tư pháp. Do vậy, Toà án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Phan Bích Như đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, tiến hành xét xử vụ án.
[II] Về nội dung:
Theo nguyên đơn, từ năm năm 2020 bị đơn nhiều lần mua thức ăn nuôi tôm bên bà Phan Bích Như, tính đến ngày 01/7/2021 bị đơn còn nợ nguyên đơn tiền thức ăn nuôi tôm là 226.588.000 đồng. Sau khi chốt số tiền nợ, nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu bị đơn thanh toán cho nguyên đơn nhưng bị đơn không thanh toán. Nguyên đơn Phan Bích Như yêu cầu bị đơn Lê Quốc Sử thanh toán tiền gốc mua nợ là 226.588.000 đồng và tiền lãi trên số tiền gốc với mức lãi suất 1%/tháng, kể từ ngày 01/7/2021 cho đến khi thanh toán hết nợ. Tại phiên toà, bị đơn Lê Quốc Sử thừa nhận từ năm năm 2020 bị đơn nhiều lần mua thức ăn nuôi tôm nợ nguyên đơn Phan Bích Như, tính đến ngày 01/7/2021 bị đơn còn nợ nguyên đơn tiền thức ăn nuôi tôm là 226.588.000 đồng như nguyên đơn trình bày là đúng; đây thuộc tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, có cơ sở xác định giữa nguyên đơn có bán thức ăn nuôi tôm cho bị đơn và bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền tính đến ngày 01/7/2021 là 226.588.000 đồng là sự việc có thật và xảy ra trong thực tế khách quan. Đồng thời, bị đơn đồng ý thanh toán tiền gốc mua nợ là 226.588.000 đồng và tiền lãi trên số tiền gốc theo yêu cầu nguyên đơn, kể từ ngày 01/7/2021 theo mức lãi suất quy định của pháp luật. Do đó, theo nguyên đơn Phan Bích Như yêu cầu bị đơn Lê Quốc Sử thanh toán tiền gốc mua nợ và tiền lãi trên số tiền gốc, kể từ ngày 01/7/2021 cho đến khi thanh toán tất nợ là có căn cứ.
Về mức lãi suất, nguyên đơn Phan Bích Như yêu cầu 1%/tháng, bị đơn Lê Quốc Sử yêu cầu theo quy định của pháp luật. Xét thấy, theo quy định tại Khoản 3 Điểu 440 Bộ luật dân sự năm 2015 “Trường hợp bên mua không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi trên số tiền chậm trả theo qui định tại Điều 375 của Bộ luật này”, Khoản 2 Điểu 357 Bộ luật dân sự năm 2015 “Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền…; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này” và Điểu 468 Bộ luật dân sự năm 2015 “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận….không được vượt quá 20%/năm… 2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”. Như vậy, cho thấy mức lãi suất nguyên đơn Phan Bích Như yêu cầu 1%/tháng (12%/năm) là chưa phù hợp với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 (10%/năm). Do vậy, theo bị đơn Lê Quốc Sử đồng ý thanh toán tiền gốc mua nợ là 226.588.000 đồng và tiền lãi trên số tiền gốc, kể từ ngày 01/7/2021 theo mức lãi suất quy định của pháp luật là có cơ sở.
Tại phiên toà, bị đơn Lê Quốc Sử yêu cầu xin được trả nợ có thời gian và theo khả năng. Xét thấy, về thời gian trả nợ Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, khi án có hiệu lực pháp luật thi hành thì trong giai đoạn Thi hành án các bên có thể thoả thuận và thuộc quyền giải quyết của Cơ quan Thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Bích Như, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Buộc bị đơn Lê Quốc Sử thanh toán cho nguyên đơn Phan Bích Như tính đến ngày 07/12/2023 tổng số tiền là 281.724.413 đồng. Trong đó, tiền gốc là 226.588.000 đồng và tiền lãi là 55.136.413 đồng. Đồng thời, bị đơn Lê Quốc Sử phải chịu tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Bích Như là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Bích Như được chấp nhận nên bị đơn Lê Quốc Sử phải chịu án phí có giá ngạch số tiền 14.086.220 đồng (281.724.413 đồng x 5%), theo theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Bích Như được chấp nhận nên bà Phan Bích Như không phải chịu án phí và được hoàn lại số tiền nộp tạm ứng phí 7.139.700 đồng theo biên lai thu số 0010293 ngày 26/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Áp dụng Khoản 2 Điểu 357, Điều 430, Điều 440, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Bích Như đối với bị đơn Lê Quốc Sử.
Buộc bị đơn Lê Quốc Sử có nghĩa vụ thanh toán cho bị đơn Phan Bích Như số tiền tính đến ngày 07/12/2023 là 281.724.413 đồng. Trong đó, tiền gốc là 226.588.000 đồng và tiền lãi là 55.136.413 đồng.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn Phan Bích Như có đơn yêu cầu thi hành án thì bị đơn Lê Quốc Sử phải giao trả đủ số tiền 281.724.413 đồng theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Nếu bị đơn Lê Quốc Sử không thực hiện thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Lê Quốc Sử phải chịu 14.086.220 đồng.
Bà Phan Bích Như được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 7.139.700 đồng theo biên lai thu số 0010293 ngày 26/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
3. Báo các đương sự biết, án xử sơ thẩm công khai có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án tại UBND cấp xã nơi cư trú) để xin Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Mỹ Xuyên; - THADS huyện Mỹ Xuyên; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Văn Hiệp Ngô Văn Cơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hùng Nuôi Phạm Hùng Nuôi |