vanban.org

Bản án 140/2022/HSST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 24/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: L THỊ H phạm tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt: L THỊ H 15 tháng t cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính t ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho chính quyền UBND phường Bình M, TX. Nghi S, Thanh H quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TS - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: L THỊ H phạm tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ NGHI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 140/2022/HSST
Ngày: 24 – 11 -2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Cúc

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Mai Đ c Danh

2. Ông: Nguyễn Văn Tòng

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà L Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 11 năm 2022 tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 130/2022/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2022. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2022/QĐXX- ST, ngày 10 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

1. Bị cáo L THỊ H– Sinh năm 1997; Nơi sinh: phường Bình M, TX. Nghi S, tỉnh Thanh H; Nơi ĐKHKTT và Nơi ở hiện nay: TD Quý H, phường Bình M, TX. Nghi S, Thanh H; Giới tính: N ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lê Văn T – Sinh năm 1972 và con bà hạm Thị H – sinh năm 1973; Ch ng: Nguyễn Văn H – sinh năm 1997, có một con SN 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Trần Thị L – sinh năm 1938

Địa chỉ: TD Vạn X, phường Xuân L, TX. Nghi S, Thanh H.

- Nguyên đơn dân sự: chị Đỗ Nh t L - sinh năm 1997 và anh Nguyễn Văn T

Địa chỉ: TD Đoan H, phường Hải B, TX. Nghi S, Thanh H.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị hạm Thị Th – SN 1974

Địa chỉ: TD Vạn X, phường Xuân L, TX. Nghi S, Thanh H.

Đều v ng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Gia đình chị Th tại TD Vạn X, phường Xuân L, TX. Nghi S có t ch c bãi trông xe tự phát, việc trông gi xe có thỏa thu n b ng miệng, không có vé xe, mỗi lượt gửi xe là 3000đ/ một xe. Ngày 01/7/2022, chị Đỗ Nh t L có gửi xe mô tô BKS 36C1 – 523.58, tại bãi xe của nhà chị Th. Đến khoảng 14h30 c ng ngày thì chị Th có nhờ bà Trần Thị L1 là m ch ng của chị Th trông xe hộ chị Th. Khoảng 15 giờ c ng ngày L THỊ Hđi bộ ngang qua bãi xe phát hiện chiếc xe máy của chị L gửi đang còn mới nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. H đến gặp bà L1 giả vờ khóc và nói “Bà ơi, cháu gửi xe ở đây nhưng làm mất chìa khóa, bà cho cháu lấy xe đi c t chìa khóa nhé”. Bà L1 tưởng th t nên đ ng ý. Sau khi l a được bà L1 thì H đi bộ sang quán nhà anh Biên nhờ anh Biên gọi hộ người c t chìa khóa xe máy r i quay lại đưa cho bà L1 3000đ để lấy xe d t sang quán nhà anh Biên. Tại đây H được anh Hoàng Văn H1 là thợ c t khóa được anh Biên gọi đến c t cho 01 chiếc chìa khóa, H trả cho anh H1 120.000đ tiền công. Sau đó H điều khiển xe đến quán nhà anh Lê Văn Th, ở TD Vinh T, phường Hải H để gạ bán xe nhưng do không có giấy tờ xe nên anh Th không mua vì v y H đã đem xe đến bãi xe của siêu thị Vincom ở xã Hải Y gửi xe.

Về phía chị L đến khoảng 15 giờ 30 phút c ng ngày chị L ra bãi gửi xe lấy xe về nhưng không thấy xe của mình, lúc này chị mới hỏi bà L1 thì bà L1 nói lúc nãy có người đã lấy xe trước đó. Sau khi biết được xe của mình đã bị k gian lấy nên chị L đến Công an thị xã Nghi Sơn trình báo sự việc trên.

Đến 14 giờ 30 phút ngày 02/7/2022, H mượn xe mô tô BKS 36C1 – 505.56 của bố đ là Lê Văn Toàn đi ra siêu thị r i gửi xe của ông Toàn lại và lấy xe của chị L tiếp tục mang ra cửa hàng s a ch a xe máy của anh Thạch để gạ bán. Do nghi ngờ xe trộm c p nên anh Thạch đã báo Công an thị xã Nghi Sơn. Tại Công an thị xã Nghi Sơn L THỊ H đã khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết lu n định giá tài sản số 86/KL- HĐ ĐGTS, ngày 21/7/2022 kết lu n: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave SX, BKS 36C1 – 523.58, số máy JA52E0322287, số khung MY141833, sử dụng t tháng 01/2022, xe hoạt động bình thường, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị: 17.400.000đ.

Bản cáo trạng số 143/CT-VKS ngày 31/10/2022 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố L THỊ Hvề tội: “ a đ o chi m đoạt tài s n” theo khoản 1 Điều 174 của BLHS.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo nh n tội và không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo.

Tại phiên tòa Đại diện VKS vẫn gi nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX;

- Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 và Điều 65 BLHS.

- Xử phạt bị cáo t 12 đến 15 tháng t cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi.

* Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho chủ sở h u nên đề nghị HĐXX miễn xét.

- Án phí : Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.

+ Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Bị cáo nh n tội, không có ý kiến tranh lu n gì với đại diện VKS, đã nh n th c được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nh hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. hân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ lu t Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. hân tích nh ng ch ng c xác định có tội, ch ng c xác định không có tội: Căn c vào lời khai của bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm ch ng, kết lu n định giá và lời khai của bị cáo có trong h sơ cũng như tại phiên tòa đã th a nh n: Khoảng 15 giờ ngày 01/7/2022, L THỊ Hđã d ng thủ đoạn gian dối, lợi dụng việc bà Trần Thị L1 đã già cả nên l a bà L1 là người trông xe để chiếm đoạt chiếc xe mô tô BKS 36C1 – 523.58, trị giá 17.400.000đ của chị Đỗ Nh t L, gửi tại bãi trông xe nhà chị Th là con dâu bà L1. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Đại diện VKS thực hành quyền công tố tại phiên toà gi nguyên quyết định truy tố bị cáo L THỊ Hvề tội: “L a đảo chiếm đoạt tài sản'' theo khoản 1 Điều 174 BLHS là đúng pháp lu t.

Bị cáo nh n tội, không có ý kiến tranh lu n gì với đại diện VKS, đã nh n th c được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nh hình phạt.

Lời khai nh n của bị cáo ph hợp với tang v t c ng các ch ng c khác có trong h sơ, ph hợp với lời kết lu n của đại diện VKS. Do v y có đủ cơ sở kết lu n: Hành vi phạm tội của bị cáo có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản'' theo khoản 1 Điều 174 BLHS.

. Xét tính chất vụ án: Bị cáo L THỊ H hoàn toàn biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và vi phạm pháp lu t, nhưng do muốn hưởng thụ tài sản mà không chịu lao động nên đã lợi dụng sự cả tin, của bà Trần Thị L1 để d ng thủ đoạn gian dối, đưa ra thông tin không đúng sự th t làm cho bà L1 tin tưởng mà giao tài sản mà mình đang trông coi, quản lý cho bị cáo chiếm đoạt mà không biết. Hành vi l a đảo chiếm đoạt tài sản do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp lu t bảo vệ, góp phần gây mất an ninh tr t tự tại địa phương nên cần buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp lu t về hành vi và h u quả mà bị cáo gây ra.

. Xét về nhân thân và trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nh n th c được hành vi phạm tội của mình đã thành khẩn khai báo, tài sản đã trả lại cho nguyên đơn dân sự, được bị hại viết đơn xin giảm nh hình phạt cho bị cáo vì v y khi lượng hình bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nh theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo phạm tội có một tình tiết tăng nặng, phạm tội với người già theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 BLHS. Xét thấy bị cáo có nơi cư trú n định, hành vi phạm tội mang tính chất bột phát, có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên nghĩ chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương theo quy định tại Điều 65 của BLHS cũng như đề nghị của Đại diện viện kiểm sát cũng đủ để răn đe, giáo dục và phòng ng a chung.

. Xét về phần dân sự: Nguyên đơn dân sự đã nh n lại tài sản bị mất, bị hại, Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xét.

Về án phí: bị cáo phải nộp án phí HSST.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52 và Điều 65 BLHS.

- Tuyên bố: L THỊ H phạm tội “L a đảo chiếm đoạt tài sản”

- Xử phạt: L THỊ H 15 tháng t cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng tính t ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo về cho chính quyền UBND phường Bình M, TX. Nghi S, Thanh H quản lý và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt t của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp bị cáo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Lu t Thi hành án hình sự.

- Án phí : Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.

+ Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST

- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, v ng mặt Bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Nh ng người v ng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày nh n được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Lu t THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thu n THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Lu t THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Lu t THA dân sự.

Cỡ chữ