vanban.org

Bản án 140/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hứa Thị T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hứa Thị T được ly hôn với ông Lê Văn Q. Về con chung: Giao 03 con chung là Lê Văn Đ, sinh ngày 04 tháng 11 năm 2009; Lê Ngọc Bảo N, sinh ngày 01 tháng 9 năm 2015 và Lê Văn H, sinh ngày 01 tháng 9 năm 2017 cho bà Hứa Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các chá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hứa Thị T và Lê Văn Q"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hứa Thị T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 29/7/2022
V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tự Soái.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Công Hiền và ông Lê Văn Cương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Mạc Văn Hinh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Trúc Quỳnh, Kiểm sát viên.

Vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 18/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2022/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hứa Thị T, sinh năm 1991

Địa chỉ: thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Ông Lê Văn Q, sinh năm 1987

Địa chỉ: thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo lời khai của đương sự, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

1. Về hôn nhân:

Nguyên đơn bà Hứa Thị T trình bày: Bà Hứa Thị T và ông Lê Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 7 năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam.

Trong quá trình chung sống vợ chồng đến tháng 3 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Q không có trách nhiệm với vợ con, chơi bời lâm vào tệ nạn cờ bạc làm ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, ông Q còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Khi bà T góp ý thì ông Q không nghe, dẫn đến thường xuyên lời qua tiếng lại làm cho cuộc sống hôn nhân vợ chồng luôn căng thẳng, tình cảm lạnh nhạt và đã ly thân không chung sống nhau hơn 02 năm nay.

Xét thấy, cuộc sống hôn nhân vợ chồng không thể kéo dài, tình cảm thực sự không còn nên bà T đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Văn Q.

2. Về con chung:

Bà T khai vợ chồng có 03 con chung là Lê Văn Đ, sinh ngày 04 tháng 11 năm 2009; Lê Ngọc Bảo N, sinh ngày 01 tháng 9 năm 2015 và Lê Văn H, sinh ngày 01 tháng 9 năm 2017 (các con chung hiện đang ở với bà T tại thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam).

Bà T có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cả 03 con chung Đ, N và H; không yêu cầu ông Q đóng góp nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung:

Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại hồ sơ vụ án thể hiện: Ông Lê Văn Q có hộ khẩu thường trú tại thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, mặc dù Tòa án nhân dân huyện Đ đã nhiều lần giao giấy triệu tập cho ông Lê Văn Q nhưng ông Q không có mặt ở nhà, gia đình cho biết ông Q bỏ nhà đi không về và cũng không chịu nhận giấy triệu tập của Tòa án để giao cho ông Q. Do vậy, Tòa án đã niêm yết tất cả các văn bản tố tụng đối với ông Q theo quy định pháp luật gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo việc công khai chứng cứ; các phiên hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa để giải quyết, xét xử vụ án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký là đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn bà Hứa Thị T chấp hành đảm bảo đúng quy định, bị đơn ông Lê Văn Q nhiều lần không chấp hành các thủ tục của Tòa án và ông vẫn vắng mặt tại phiên tòa.

- Quan hệ hôn nhân: Đề nghị HĐXX chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông Q.

- Quan hệ con chung: Để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển ổn định cho các con, đề nghị HĐXX giao các con Lê Văn Đ, Lê Ngọc Bảo N và Lê Văn H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với thực tế và quy định pháp luật. Bà T không yêu cầu ông Q đóng góp cấp dưỡng nuôi con nên không đề cập.

- Quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Văn Q là bị đơn trong vụ án đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng ông Q cố tình vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng ông Q là đúng với khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà Hứa Thị T và ông Lê Văn Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ theo giấy chứng nhận kết hôn ngày 16 tháng 7 năm 2009. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Q là hợp pháp.

Trong quá trình chung sống vợ chồng, ông Q không có trách nhiệm với vợ con, chơi bời lâm vào tệ nạn cờ bạc ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, ông Q còn có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, khi bà T góp ý ông Q không nghe, dẫn đến thường xuyên lời qua tiếng lại làm cho cuộc sống hôn nhân vợ chồng luôn căng thẳng, tình cảm lạnh nhạt. Thực tế giữa bà T và ông Q ly thân không còn chung sống với nhau đã hơn 02 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông Q đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình.

Về con chung: Bà T có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 03 con Lê Văn Đ, Lê Ngọc Bảo N và Lê Văn H. Xét thấy, hiện tại bà T làm công nhân may mặc và thu nhập hằng tháng ổn định, có điều kiện chăm sóc con chung, các cháu Đ, N và H còn nhỏ cần được sự chăm sóc nuôi dưỡng của mẹ. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra ông Q bỏ mặt không quan tâm gì đến con cái. Trong thời gian trước đây và hiện nay các cháu Đ, N và H do bà T trực tiếp nuôi dưỡng đảm bảo tốt về mọi mặt. Căn cứ vào các Điều 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của bà T, giao cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung Đ, N và H là phù hợp với thực tế và quy định pháp luật.

Ông Lê Văn Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn không ai được cản trở. Khi có lý do chính đáng các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông Q đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hứa Thị T.

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Hứa Thị T được ly hôn với ông Lê Văn Q.

- Về con chung: Giao 03 con chung là Lê Văn Đ, sinh ngày 04 tháng 11 năm 2009; Lê Ngọc Bảo N, sinh ngày 01 tháng 9 năm 2015 và Lê Văn H, sinh ngày 01 tháng 9 năm 2017 cho bà Hứa Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu Đ, N và H đủ 18 tuổi (hiện các cháu Đ, N và H đang ở với bà T tại thôn N, xã T, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam).

Bà T không yêu cầu ông Q đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau ly hôn không ai được cản trở. Khi có lý do chính đáng các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: (Không yêu cầu giải quyết).

- Về án phí: Bà Hứa Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu 0003643 ngày 28 tháng 02 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.

- Về quyền kháng cáo: Bà Hứa Thị T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Văn Q có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết.

Cỡ chữ