vanban.org

Bản án 140/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Th với ông Phạm Văn Bé T. Giấy chứng nhận kết hôn số 109/KH.MP, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân phường Mỹ phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho Phạm Văn Bé T và Lê Thị Th ngày 09 tháng 6 năm 2010 hết hiệu lực kể từ ngày bản án c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 140/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 17-6-2021
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bé Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Kim Thạnh

2. Ông Phan Hữu Đức

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Ký, là Thư ký Tòa án, của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Ông Dương Chí Thanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2021/TLST-HNGĐ, ngày 14 tháng 4 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 244/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Th, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khóm Đ, phường MP, thành phố LX, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Phạm Văn Bé T, sinh năm 1987 (Vắng mặt)

Địa chỉ: khóm Đ, phường MP, thành phố LX, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ đơn khởi kiện đề ngày 05 tháng 4 năm 2021 nguyên đơn bà Lê Thị Th thể hiện nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:

Bà Lê Thị Th và ông Phạm Văn Bé T tự quen biết, tìm hiểu và đi đến hôn nhân. Cả hai thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Phước, vào ngày 09 tháng 6 năm 2010. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 11 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cả hai không hòa hợp trong cuộc sống, ông T không lo làm ăn mà còn có hành vi bạo lực với bà, gây ra nợ nần.

Do hiện tại cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1/ Về hôn nhân: Ly hôn với ông Phạm Văn Bé T;

2/ Về quan hệ con chung: Cả hai có với nhau hai con chung Phạm Lê Minh Nh, sinh ngày 16 tháng 6 năm 2010 và Phạm Lê Thanh Tr, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2016. Hiện hai con đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu ông Phạm Văn Bé T cấp dưỡng nuôi con;

3/ Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Bị đơn ông ông Phạm Văn Bé T không có văn bản trình bày ý kiến, không tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai, chứng cứ và hòa giải; cũng như không tham dự phiên tòa do Tòa án triệu tập.

Tại phiên tòa ngày 17 tháng 6 năm 2021: Ba T vắng mặt có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; ông T vắng mặt không lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ba T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn với ông T. Ông T có nơi cư trú tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Do đó, Hội đồng xét xử xác định đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Ba T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; ông T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự: Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ba T, ông T.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Ba T và ông T tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện và có thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang vào ngày 09 tháng 6 năm 2010. Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ba T yêu cầu ly hôn với ông T. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cả hai không hòa hợp trong cuộc sống, ông T không lo làm ăn mà còn có hành vi bạo lực với bà, gây ra nợ nần. Hiện tại do tình cảm không còn nên ba T yêu cầu được ly hôn với ông T. Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Tuy nhiên, trong cuộc hôn nhân giữa ba T và ông T; ông, bà lại không thực hiện các nghĩa vụ này. Quá trình giải quyết vụ án, ông T không có văn bản trình bày ý kiến gửi Tòa án, không tham dự các buổi hòa giải, không tham dự phiên tòa, không đưa ra được giải pháp hàn gắn hôn nhân giữa ông, bà. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét yêu cầu của ông T. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ba T với ông T.

Về con chung: Ba T và ông T có hai con chung Phạm Lê Minh Nh, sinh ngày 16 tháng 6 năm 2010 và Phạm Lê Thanh Tr, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2016. Hiện hai con đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi hai con và không yêu cầu ông Phạm Văn Bé T cấp dưỡng nuôi con;

Tại biên bản ghi ý kiến của cháu Nhựt, ngày 04 tháng 5 năm 2021 thể hiện cháu có nguyện vọng được sống với mẹ. Do ông T không có văn bản thể hiện yêu cầu được nuôi dưỡng hai con chung và cũng không tranh chấp việc nuôi con với ba T nên căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của hai con chung. Hội đồng xét xử quyết định giao hai con chung Phạm Lê Minh Nh, sinh ngày 16 tháng 6 năm 2010 và Phạm Lê Thanh Tr, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2016 cho ba T trực tiếp nuôi dưỡng.

Ba T phải tạo điều kiện cho ông T trong việc trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Việc nuôi con chung không cố định.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Ba T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Ba T trình bày không có tuy nhiên sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì ba T, ông T phải liên đới trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ba T phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, 186, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 271, 273, 278 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1/ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Th với ông Phạm Văn Bé T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 109/KH.MP, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân phường Mỹ phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho Phạm Văn Bé T và Lê Thị Th ngày 09 tháng 6 năm 2010 hết hiệu lực kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2/ Về con chung: Phạm Lê Minh Nh, sinh ngày 16 tháng 6 năm 2010 và Phạm Lê Thanh Tr, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2016 giao cho ba T trực tiếp nuôi dưỡng khi ly hôn.

Ba T phải tạo điều kiện cho ông T trong việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Việc nuôi con chung không cố định.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con do ba T không yêu cầu.

3/ Về tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân: Không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Ba T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002162 ngày 08 tháng 4 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Ba T đã nộp đủ.

5/ Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Th, ông Phạm Văn Bé T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ