vanban.org

Bản án 140/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị O.

Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị O và ông Dương Văn K là vợ chồng. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị O phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0012129 ngày 01 thá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Thị O khởi kiện ly hôn ông Dương Văn K"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị O.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên bố; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2021/HNGĐ-ST
Ngày 09-7-2021
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Trạng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Hà

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Chí Đệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 09 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 255/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2021, về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 315/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp MĐB, xã TAK, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Dương Văn K, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp TP, xã TAK, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Nguyễn Thị O trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông K chung sống với nhau vào năm 1992, không có đăng ký kết hôn, việc chung sống tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do cuộc sống không hòa hợp, mỗi người đã có cuộc sóng riêng, không ai có trách nhiệm với ai, gia đình hai bên hòa giải hàn gắn nhiều lần nhưng không thành, ông bà ly thân đến nay trên mười năm. Bà O yêu cầu ly hôn ông K.

Về con chung: Bà và ông K có 02 người con chung Dương Huỳnh N, sinh năm 1993, Dương Văn N, sinh năm 1999. Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Không có.

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, ông K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến giải trình liên quan đến yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị O có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Dương Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà O, ông K là phù hợp.

Về hôn nhân: Bà O xác định bà và ông K chung sống với nhau vào năm 1992 nhưng không có đăng ký kết hôn, ông K không có ý kiến phản đối vấn đề này. Theo khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và Gia đình quy định “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà O và ông K.

Về con chung: Dương Huỳnh N và Dương Văn N đã trưởng thành và bà O, ông K cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về tài sản chung: Bà O và ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về nợ: Bà O xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà O phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 53 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị O.

1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị O và ông Dương Văn K là vợ chồng.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị O phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ theo biên lai số 0012129 ngày 01 tháng 6 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà O đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Bà Nguyễn Thị O và ông Dương Văn K có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ