- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyễn Thị L. kiện Nguyễn Kim T."
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Kim T..
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________ Bản án số: 140/2020/DS-PT Ngày: 30/9/2020 V/v Tranh chấp hợp đồng góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hoàng Thám
Ông Trần Minh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Yến Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
An Giang
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Đỗ Phước Thành - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An
Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 171/2020/TLPT-DS ngày 07
tháng 8 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 21/2020/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2020
của Toà án nhân dân huyện C., tỉnh An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 175/2020/QĐ-PT
ngày 07 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L. (L.), sinh năm 1974; nơi cư trú: ấp 6,
xã P., huyện C.L., tỉnh Đ. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm
1962; nơi cư trú: ấp L.P., xã L., huyện C., tỉnh An Giang (Theo văn bản ủy
quyền ngày 25/12/2019) (Vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Kim T., sinh năm 1953; nơi cư trú: ấp Đ., xã M.,
huyện C., tỉnh An Giang (Có mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Kim T.: Ông
Nguyễn Văn B. là Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K. Địa chỉ: Số 1169/2 ấp P,
xã M., huyện C.T., tỉnh K. (Có mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Kim T..
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu kèm theo và quá trình tố tụng tại phiên
tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị C trình bày:
Do chỗ quen biết nên bà L. (Lan) có tham gia các dây hụi do bà T. làm
chủ với tên trong danh dách hụi là “Cô 6 L.”:
Dây hụi thứ nhất: 1.000.000 đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 11/01/2018
âm lịch, gồm 21 hụi viên, bà L. tham gia 01 phần. Hụi khui được 7 lần, đến lần thứ 8 thì bà T. ngưng không khui tiếp; bà đã chầu được 7.000.000 đồng.
Dây hụi thứ hai: 1.000.000 đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 14/01/2018 âm
lịch, gồm 21 hụi viên, bà L. tham gia 01 phần. Hụi khui được 7 lần, đến lần thứ 8 thì bà T. ngưng không khui tiếp; bà đã chầu được 7.000.000 đồng.
Dây hụi thứ ba: 1.000.000 đồng/tháng, bắt đầu khui ngày 13/02/2018 âm
lịch, gồm 21 hụi viên, bà L. tham gia 01 phần. Hụi khui được 6 lần, đến lần thứ 7 thì bà T. ngưng không khui tiếp; bà đã chầu được 6.000.000 đồng.
Ngoài ra, bà T. còn nợ bà L. số tiền vay 60.000.000 đồng. Tại phiên tòa
sơ thẩm, bà Lê Thị C là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà T. trả số tiền vay 60.000.000 đồng, bà L. chỉ yêu cầu bà T. trả số tiền hụi 20.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn bà Nguyễn Kim T. trình bày: Trước đây bà có làm chủ một số dây
hụi và bà L. có tham gia chơi hụi nhưng bà không nhớ bà L. có tham gia trong các dây hụi này không, bà sẽ kiểm tra lại. Còn số điện thoại 0933.494.461 ghi trên danh sách hụi là số điện thoại của bà từng sử dụng nhưng hiện nay bà đã không còn sử dụng. Bà không có vay tiền của bà L., chữ ký và chữ viết trong biên nhận vay không phải của bà.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Kim T., Luật sư
Nguyễn Văn B. trình bày: Bà T. cũng đồng ý bà có làm chủ các dây hụi mà bà L. tham gia, hiện nay bà T. còn nợ lại bà L. số tiền hụi 20.000.000 đồng, đồng ý bà L. rút lại số tiền vay 60.000.000 đồng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 21/2020/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2020
của Toà án nhân dân huyện C. tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L. (L.).
Buộc bà Nguyễn Kim T. có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L. số tiền hụi
20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L. đối với số tiền vay
60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đổng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương
sự.
Ngày 20/5/2020 bà Nguyễn Kim T. có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc
thẩm xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Lê Thị C đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử
vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Bị đơn bà Nguyễn Kim T. vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp
sơ thẩm. Về kháng cáo: Bà xin thay đổi một phần nội dung kháng cáo. Căn cứ
vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bà đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem
xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà đồng ý trả cho
nguyên đơn số tiền hụi đã đóng là 4.000.000 đồng. Ngoài ra bà T. còn có đơn
xin miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm do bà là người cao tuổi.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Kim T., Luật sư
Nguyễn Văn B. trình bày: Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
buộc bị đơn trả 20.000.000 đồng. Căn cứ theo quy định của pháp luật, chủ hụi
phải cung cấp đầy đủ sổ hụi có xác nhận số lần hụi viên đóng hụi, trong đó theo
sổ hụi của bà T. xác định bà L. có đóng được 04 lần với số tiền 4.000.000 đồng.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn,
bà T. đồng ý trả cho bà L. số tiền 4.000.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân thủ pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai
đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét
xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Quá trình giải quyết ở cấp phúc thẩm và tại phiên tòa
người kháng cáo không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của
mình nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng
dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy
nhiên tại phiên tòa sơ thẩm, bút ký phiên tòa và nội dung bản án có sự mâu
thuẫn, do đó cấp sơ thẩm cần phải rút kinh nghiệm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Bà Nguyễn Kim T. kháng cáo trong hạn luật định, là người cao tuổi
và có đơn xin nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí; do đó
đơn kháng cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bà Lê Thị C đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét
xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét
xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Bà C. đại diện ủy quyền cho bà L. xin rút lại số tiền vay 60.000.000 đồng là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này là phù hợp và các đương sự không có kháng cáo nên đã có hiệu lực pháp luật.
Xét yêu cầu kháng cáo của bà T.: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có
trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên Tòa hôm nay thấy rằng:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L. khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Kim T.
phải trả cho bà tổng số tiền 03 dây hụi là 20.000.000 đồng với chứng cứ là 03 danh sách hụi viên, trong đó hụi viên có tên “Cô 6 L.” theo lời bà L. trình bày chính là tên thường gọi của bà ở nhà. Trong khi đó, bà T. cũng thừa nhận bà L. có tham gia chơi hụi do bà làm chủ nhưng bà không nhớ bà L. có tham gia trong các dây hụi này không, bà sẽ kiểm tra lại và có ý kiến sau nhưng cho đến khi xét xử sơ thẩm bà vẫn không có ý kiến trình bày.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cũng như cấp
phúc thẩm đã tiến hành thu thập thêm chứng cứ là lời khai của những người làm chứng như bà Phan Thị Kim T1, bà Trần Thị Kim Q. (tên trong danh sách hụi là 6 Hé), bà Bùi Thị Y. (tên trong danh sách hụi là 2 Tre) và bà Huỳnh Thị Kim C1 (tên trong danh sách hụi là Tư Si). Tất cả những người này đều cho rằng có cùng tham gia chơi các dây hụi trên với bà L., các dây hụi này khui được 7 – 8 lần thì ngưng không khui tiếp và mọi người có đi khui hụi chung nên biết bà L. được ghi tên trong danh sách hụi là “Cô 6 L.” vì do bà L. ở nhà thứ 6. Đồng thời theo biên bản xác minh ngày 01/09/2020, ông Nguyễn Văn T. là Phó ấp Đ. thuộc xã M. cũng xác nhận bà L. có tên thường gọi ở nhà là “Cô 6 L.”.
Ngoài ra, quá trình xét xử phúc thẩm, bà T. có cung cấp cho Tòa án
danh sách 03 dây hụi do bà làm chủ khui ngày 11/01/2018, ngày 14/01/2018 và khui ngày 13/02/2018 âm lịch. Qua kiểm tra, đối chiếu danh sách thứ tự, tên hụi viên đều trùng khớp với danh sách do bà L. cung cấp và tại phiên tòa phúc thẩm bà T. cũng thừa nhận bà L. có tham gia các dây hụi này nhưng bà cho rằng bà L. chỉ đóng được 02 lần đối với dây hụi khui ngày 11/01/2018 và 01 lần đối với 02 dây hụi còn lại rồi ngưng. Tuy nhiên, bà T. không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho những lần giao nhận tiền hụi giữa hai bên ngoài quyển sổ hụi do chính bà trực tiếp ghi và đánh dấu. Ngoài ra, theo bà T. trình bày thì thời điểm bà tuyên bố vỡ hụi là khoảng tháng 06 năm 2018 cũng tương đương với thời điểm ngưng khui hụi như những người làm chứng đã trình bày. Như vậy, kể từ thời điểm bắt đầu khui hụi cho đến khi tuyên bố bể hụi, theo tập quán cũng như thói quen góp hụi tại địa phương thì tất cả các hụi viên buộc phải đóng đầy đủ số tiền góp hụi định kỳ khui hụi theo như thỏa thuận; nếu bà L. không đóng thì tại sao bà T. không yêu cầu. Cho nên, việc bà T. khai nại là không có cơ sở xem xét.
Từ những phân tích trên cho thấy cấp sơ thẩm xem xét chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của bà L. là có căn cứ. Bà Nguyễn Kim T. kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà T., giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa sơ thẩm, biên bản phiên tòa và nội dung bản án chưa có
sự thống nhất với nhau; tuy nhiên nội dung này không ảnh hưởng đến nội dung
của vụ án nhưng cấp sơ thẩm cần phải rút kinh nghiệm.
Về án phí: Bà T. bị buộc phải trả tiền cho bà L. và kháng cáo không
được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy
định. Tuy nhiên, do bà T. là người cao tuổi, tại giai đoạn phúc thẩm bà có đơn
xin miễn án phí sơ thẩm và phúc thẩm nên được miễn nộp tiền án phí theo quy
định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban
thường vụ Quốc hội. Do đó cần phải sửa án sơ thẩm về phần án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Kim T..
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 21/2020/DS-ST ngày 23/4/2020
của Tòa án nhân dân huyện C., tỉnh An Giang tuy nhiên có sửa về án phí.
Áp dụng Điều 282, Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 35,
Điều 39, Điều 144, Điều 146, Điều 147, Điều 217, Điều 228, Điều 235 và Điều
244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L. (L.). Buộc bà
Nguyễn Kim T. có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L. (L.) số tiền hụi
20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L. (L.) đối với số tiền
vay 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đổng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không
thi hành đầy đủ khoản tiền nêu trên thì còn phải chịu lãi phát sinh do chậm thực
hiện nghĩa vụ theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm
2015 tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành.
3. Về án phí:
- Án dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị L. được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 2.000.000 đồng
(hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0007746 ngày 23/12/2019 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện C., tỉnh An Giang.
Bà Nguyễn Kim T. là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp án
phí.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Kim T. là người cao tuổi thuộc
trường hợp được miễn nộp án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2
luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
THẨM PHÁN
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |