vanban.org

Bản án 140/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Quốc hội ngày 30/12/2016.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Bảo P Về con chung: Giao cháu Trần Đình K sinh ngày 11/6/2015 cho chị Nguyễn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Quốc hội ngày 30/12/2016.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆNCHÂU THÀNH
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bảnán số:140/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 19/3/2019
V/v Tranh chấp Xin ly hôn
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tường;
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Lê Văn Minh
2.Ông Lê Hoài Phong
CHÂU THÀNH
thẩm công khai vụ án thụ lý số 823/2018/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2018 về “Tranh chấp
Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày
12/02/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2019/ QĐST-HNGĐ ngày 28/2/2019 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn:Chị Nguyễn Bảo P, sinh năm 1987
Địa chỉ: ấp TH, xã ST, Châu Thành, tỉnh TIỀN GIANG.
2. Bị đơn: Anh Trần Đình T sinh năm 1984
Địa chỉ: ấp Đông, xã KS, Châu Thành, tỉnh TIỀN GIANG.
(Chị P có mặt tại phiên toà, anh T vắng mặt tại phiên tòa)
Ngày 19 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp,

tiếp cận, công khai chứng cứ và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị P trình bày: chị P và anh T chung sống vợ chồng vào năm 2013,có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã KS, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 062 ngày 09/7/2014. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn và đến năm 2018 thì mâu thuẫn trầm trọng do anh T không chăm lo gia đình, vợ chồng thường mâu thuẫn về tiền bạc, bất đồng quan điểm hiện đã ly thân từ tháng 5/2018 đến nay. Do mâu thuẫn kéo dài mặc dù cố gắng hàn gắn nhiều lần nhưng không có kết quả, tình cảm vợ chồng không còn nên chị P xin Tòa án giải quyết ly hôn với anh T.Về con chung có 01 con chung tên Trần Đình K sinh ngày 11/06/2015 chị P xin trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- 2 -

*Tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,công khai chứng cứ,

biên bản hòa giải bị đơn anh T trình bày: anh T không đồng ý ly hôn với chị P lý do anh còn thương vợ con. Về con chung 01 con tên Trần Đình K sinh ngày 11/06/2015 anh không đồng ý ly hôn nên anh không có ý kiến về việc ai nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

* Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra

cũng như tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: chị P và anh T kết hôn vào năm 2013,có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã KS, huyện Châu Thành,tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 062 ngày 09/7/2014. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn và đến năm 2018 thì mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân theo chị P trình bày là do anh T không chăm lo gia đình, vợ chồng thường mâu thuẫn về tiền bạc, bất đồng quan điểm hiện đã ly thân từ tháng 5/2018. Do thấy không còn tình cảm nên chị P làm đơn xin ly hôn với anh T. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh T là hôn nhân hợp pháp. Nay, chị P xin ly hôn với anh T nên được xem xét giải quyết theo quy định Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu xin ly hôn của chị P: tại phiên tòa, chị P yêu cầu Tòa án giải quyết ly

hôn với anh T lý do giữa chị P và anh T phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T không chăm lo gia đình, vợ chồng thường mâu thuẫn về tiền bạc, bất đồng quan điểm hiện đã ly thân từ tháng 5/2018,giữa hai vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn. Anh T cho rằng còn thương vợ con không muốn ly hôn vợ chồng không có mâu thuẫn. Xét thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị P và anh T đã có phát sinh mâu thuẫn từ năm 2015 và đã đến mức trầm trọng, hiện anh chị đã ly thân từ tháng 5/2018. Anh T có mặt tại buổi hòa giải nhưng vắng mặt tại phiên tòa, anh trình bày tại buổi hòa giải anh không đồng ý ly hôn, nhưng tại phiên tòa anh vắng mặt không có lý do đồng thời anh không đưa ra được giải pháp để hàn gắn tình cảm, trong khi chị P vẫn giữ yêu cầu ly hôn. Tại biên bản xác minh của Tòa án ông Nguyễn Văn An là Trưởng ấp Đông, xã KS, Châu Thành, Tiền Giang cũng trình bày giữa chị P và anh T phát sinh mâu thuẫn là do anh T không lo làm ăn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, hiện tại vợ chồng sống ly thân. Do đó có cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị P và anh T là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, nên xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: có 01 cháu tên Trần Đình K sinh ngày 11/6/2015 chị P xin trực

tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.Xét yêu cầu nuôi con chung của chị P là có căn cứ đúng qui định,vì hiện tại cháu K đang sống với chị P từ khi ly thân do chị trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến nay, chị P cũng có nghề nghiệp thợ uốn tóc và thu nhập 8.000.000 đồng/tháng đủ điều kiện chăm sóc con chung,nên cần giao cháu K cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là đảm bảo điều kiện cho cháu K phát triển toàn diện về tinh thần và thể chất và không làm ảnh hưởng cuộc sống ổn định của cháu K.Chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết về cấp dưỡng.

- 3 -

Về tài sản chung:chị P và anh T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án xem

xét do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về nợ chung: chị P và anh T trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án

xem xét giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo

quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu: Thẩm phán và Hội

đồng xét xử tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự vắng mặt tại phiên tòa. Về nội dung vụ án,đề nghị áp dụng các Điều 56,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị P về việc xin ly hôn với anh T, về con chung đề nghị giao con chung là cháu K cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị P không yêu cầu, về tài sản chung và nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết do không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội ngày 30/12/2016.

Xử:

- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Bảo P

- Về con chung: Giao cháu Trần Đình K sinh ngày 11/6/2015 cho chị Nguyễn

Bảo P trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về án phí: chị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm,

được khấu trừ với số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị P đã nộp theo biên lai thu số 0009162 ngày 24/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành nên xem như chị P đã nộp xong án phí.

Chị P có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản

án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự

thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi

- 4 -

hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ