vanban.org

Bản án 140/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Quận 10, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 07/05/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Huỳnh Đạt T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á số tiền là 116.593.914 (Một trăm mười sáu triệu, năm trăm chín mươi ba ngàn, chín trăm mười bốn) đồng [trong đó nợ gốc là 55.150.735 (Năm mươi lăm triệu, một trăm năm mươi ngàn, bảy trăm ba mươi lăm) đồng và tiền lãi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP N A"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140/2019/DS-ST
Ngày: 08-05-2019
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Vũ Ngọc Tiến.

2/ Bà Đỗ Thị A.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thế Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 05 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 571/2018/TLST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2019/QĐXX-ST ngày 27 tháng 03 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2019/QĐHPT-ST ngày 17 tháng 04 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân HàngTMCP NA

Trụ sở: 201-203 R, Phường X, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đắc L.

(Theo văn bản ủy quyền số 80/2018/UQ-AMC ngày 08/10/2018 của Ngân hàng TMCP NA).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Đạt T , sinh năm 1966 (vắng mặt).

Thường trú: 606/140 A, Phường B, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 08/10/2018, các tài liệu chứng cứ của nguyên đơn Ngân hàng TMCP NA và lời trình bày của ông Nguyễn Đắc L đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

Ngày 30/12/2014 và 31/12/2014 ông T và Ngân hàng TMCP NA (sau đây gọi tắt là Ngân hàng NA ) ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng nội địa (thẻ Cash Card); Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (thẻ Master Card) và bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) với hạn mức là 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng Master Card số 5240 8300 1100 3596 và thẻ tín dụng Cash Card số 9704 2809 0004 7075, ông T đã thực hiện các giao dịch với số tiền là 55.150.735 đồng. Qua nhiều lần làm việc và nhắc nhở nhưng ông T không có thiện chí trả nợ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 29/01/2016 Ngân hàng NA đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Nay, Ngân hàng NA yêu cầu Toà án buộc ông T phải trả ngay số tiền nợ tạm tính đến ngày 08/5/2019 là 116.593.914 đồng (trong đó nợ gốc là 55.150.735 đồng và lãi quá hạn là 61.443.179 đồng) ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật và lãi suất tiếp tục phát sinh theo thoả thuận cho đến khi trả dứt nợ.

Trong quá trình Toà án giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã tiến hành triệu tập ông Huỳnh Đạt T đến Toà để tiến hành mở phiên họp công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên tòa nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến phản đối.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng NA xin được vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Từ giai đoạn thụ lý vụ án đến khi nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, kiến nghị về việc Toà án tống đạt thông báo thụ lý vụ án trễ hạn cho đương sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý cũng như tại phiên toà hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Căn cứ hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng nội địa; Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng và bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) được ký kết giữa ngân hàng với ông T, việc thực hiện giao dịch trên là do các bên hoàn toàn tự nguyện nên được pháp luật bảo vệ. Quá trình sử dụng thẻ ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán về tiền nợ gốc và lãi nên đề nghị Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Toà án nhận định:

. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quan hệ pháp luật và tư cách tham gia tố tụng của đương sự: Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng NA yêu cầu bị đơn ông Huỳnh Đạt T trả số tiền nợ thẻ còn thiếu, có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn ông T có nơi cư trú cuối cùng tại Quận 10 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét Giấy ủy quyền số 80/2018/UQ-AMC ngày 08/10/2018 của Ngân hàng NA ủy quyền cho ông Nguyễn Đắc L tham gia tố tụng tại Toà án là phù hợp với quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét, ông Nguyễn Đắc L đại diện uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Huỳnh Đạt T đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không tham gia phiên tòa và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

. Xét yêu cầu của nguyên đơn:

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 30/12/2014 và Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng nội địa ngày 31/12/2014 của Ngân hàng NA với ông T được giao kết hợp pháp vì có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ vào Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế và thẻ tín dụng nội địa hai bên ký kết quy định về trách nhiệm thanh toán tất cả các khoản tiền đã giao dịch và các khoản phí, lãi và các chi phí phát sinh nếu không thanh toán đúng hạn cho Ngân hàng.

Căn cứ bản khai do Ngân hàng cung cấp ngày 08/5/2019 của Ngân hàng NA cho thấy ông T đã giao dịch bằng thẻ tín dụng Master Card số 5240 8300 1100 3596 và thẻ tín dụng Cash Card số 9704 2809 0004 7075 từ ngày 24/01/2015 đến ngày 29/01/2016. Ngày 29/01/2016 (là ngày Ngân hàng NA đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với ông T) đến nay ông T chưa thanh toán nợ số tiền gốc là 55.150.735 đồng. Tại Điều 10 và 12 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng có quy định“ Chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán đối với giao dịch thẻ, phí, lãi phát sinh từ thời điểm ký xác nhận thẻ cho đến khi thanh toán hết toàn bộ số dư nợ và các khoản phải trả khác…”và “Ngay sau ngày đến hạn thanh toán mà chủ thẻ không thanh toán số tiền tối thiểu hoặc số tiền đến hạn thì ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn.. và có quyền chấm dứt việc sử dụng của Chủ thẻ...”. Như vậy, ông T không thanh toán số tiền đã thực hiện giao dịch còn lại là vi phạm thoả thuận tại hợp đồng mà các bên đã ký kết. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông T phải thanh toán số tiền nợ gốc.

Xét yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi:

Theo Điều 10 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng NA áp dụng tính lãi quá hạn khi vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với loại thẻ tín dụng mà ông đang sử dụng là “Áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn”, như vậy theo thoả thuận ông phải chịu lãi suất đối với thẻ Master Card là 2.625%/tháng (150% x 1.75%/tháng) và thẻ Cash Card là 3%/tháng (150% x 2%/tháng). Nguyên đơn yêu cầu ông T trả tiền lãi quá hạn kể từ ngày 29/01/2016 đến ngày 08/5/2019 là 61.443.179 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự và Điều 91, 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010.

Như vậy, lãi suất sẽ được tiếp tục tính kể từ ngày 09/5/2019 cho đến khi ông T thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất và mức phí quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/12/2014; Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng nội địa ngày 31/12/2014 của Ngân hàng NA .

Do thời hạn ông T không thanh toán số tiền còn thiếu cho Ngân hàng NA đã lâu làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán ngay số tiền còn thiếu là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 5 Điều 466, khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ Điều 91, Điều 98 của Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010;

- Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Huỳnh Đạt T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á số tiền là 116.593.914 (Một trăm mười sáu triệu, năm trăm chín mươi ba ngàn, chín trăm mười bốn) đồng [trong đó nợ gốc là 55.150.735 (Năm mươi lăm triệu, một trăm năm mươi ngàn, bảy trăm ba mươi lăm) đồng và tiền lãi là 61.443.179 (Sáu mươi mốt triệu, bốn trăm bốn mươi ba ngàn, một trăm bảy mươi chín) đồng].

Tiền lãi sẽ được tiếp tục tính từ ngày 09/5/2019 cho đến khi ông T thanh toán xong nợ, theo mức lãi suất quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 30/12/2014; Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng nội địa ngày 31/12/2014 của Ngân hàng NA.

Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm là 5.829.696 (Năm triệu, tám trăm hai mươi chín ngàn, sáu trăm chín mươi sáu) đồng, ông Huỳnh Đạt T chịu.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Nam Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.641.540 đồng (Hai triệu, sáu trăm bốn mươi mốt ngàn năm trăm bốn mươi) đồng, theo biên lai thu tiền số 0016626 ngày 03/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ