vanban.org

Bản án 140/2018/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 02/10/2018 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/10/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác háng cáo của người hởi iện bà Hồ Thị G và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Bác đơn hởi iện của bà Hồ Thị G về việc yêu cầu hủy Quyết định số 2553/QĐ-UBND ngày 08/7/2011 của Ủy ban nh n d n thị xã N về việc thu hồi đ t của hộ gia đình, cá nh n để thực hiện dự án Trung t m điện lực V xã N, thị xã N, Quyết định số 3150/QĐ-UBND ngày 21/9/2011 của Ủy ban nh n d n thị xã N về vi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện các quyết định hành chính về thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư"
  • Tòa quyết gì? Bác háng cáo của người hởi iện bà Hồ Thị G và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Điều 241 Luật tố tụng hành chính; Điều 39 Luật Đ t đai
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 140 /2018/HC-PT
Ngày: 02/10/2018
“V/v Khiếu kiện các quyết định hành chính
về thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

Thành ph n H i đ ng xét x phúc th m g m có:

Th m phán – Ch t a phiên tòa: Ông Vũ Thanh Liêm

Các Th m phán:

Ông Lê Phước Thanh

Ông Trương Công Thi

Th ký phiên tòa: Bà Hoàng Hải An - Thư T a án nh n d n c p cao tại Đà N ng.

Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân c p cao t i Đà N ng: Ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 02 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở T a án nh n d n c p cao tại Đà N ng xét xử phúc thẩm công hai vụ án hành chính thụ l số 146/2018/TLPT-HC ngày 19/3/2018 về việc “Khiếu kiện các quyết định hành chính về thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 16/2017/HC-ST ngày 22/8/2017 của T a án nh n d n tỉnh Khánh Hoà bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 146B/2018/QĐ-PT ngày 18 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

* Người khởi kiện: Bà Hồ Thị G; địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

Đại diện theo y quyền c a người khởi kiện: Ông Lê L; địa chỉ: Tổ d n phố 18, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa (theo gi y ủy quyền ngày 14/7/2017). Có mặt.

* Người bị kiện:

- Ủy ban nh n d n thị xã N, tỉnh Khánh H a.

- Chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã N, tỉnh Khánh H a.

Người đại diện theo y quyền: Ông Nguyễn Vĩnh T – Chức vụ: Phó chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã N, tỉnh Khánh H a (theo gi y ủy quyền số 2841/GUQ-UBND ngày 21/11/2016). Ông T có văn bản số 3100/UBND ngày 28/9/2018 xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Nguyễn Trần Thanh P – Chức vụ: Phó ph ng Tài nguyên và Môi trường thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; Địa chỉ: phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Bà Dương Thị N; địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn N1; địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

Người đại diện theo uỷ quyền của anh N1: Ông Lê L; địa chỉ: Tổ d n phố 18, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.

- Anh Nguyễn Văn T; địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn ngày 16/8/2018 xin xét xử vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn T1; địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có đơn ngày 16/8/2018 xin xét xử vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn M; địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Chị Phạm Thị M1; địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của anh M, chị M1 là ông Lê Đình H; địa chỉ: thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh H a (theo gi y ủy quyền ngày 08/8/2018). Có mặt.

- Cháu Nguyễn Văn Đ và cháu Nguyễn Thuỳ V; địa chỉ: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 08/7/2011, Ủy ban nh n d n (sau đ y viết tắt là UBND) thị xã N ban hành Quyết định số 2553/QĐ-UBND về việc thu hồi đ t của hộ gia đình, cá nh n để thực hiện dự án Trung t m điện lực V xã N, thị xã N (sau đ y viết tắt là Quyết định 2553).

Ngày 21/9/2011, UBND thị xã N ban hành Quyết định số 3150/QĐ-UBND về việc phê duyệt inh phí bồi thường, hỗ trợ cho ông Nguyễn L hi Nhà nước thu hồi đ t để thực hiện dự án Trung t m điện lực V xã N, thị xã N (sau đ y viết tắt là Quyết định 3150).

Ngày 22/8/2016, UBND thị xã N có Văn bản số 1817/UBND về việc trả lời đơn của bà Hồ Thị G về việc iến nghị xem xét lại phương án bồi thường (sau đ y viết tắt là Văn bản 1817).

Ngày 08/9/2016, bà Hồ Thị G có đơn hởi iện yêu cầu hủy Quyết định số 2553, Quyết định 3150, Văn bản 1817.

Ngày 26/6/2017, UBND thị xã N ban hành Quyết định số 1263/QĐ-UBND về việc điều chỉnh, bổ sung một phần nội dung Quyết định 2553 (sau đ y viết tắt là Quyết định 1263).

Ngày 28/6/2017, UBND thị xã N ban hành Quyết định số 1303/QĐ-UBND về việc điều chỉnh tên người sử dụng đ t tại Quyết định 3150 (sau đ y viết tắt là Quyết định 1303).

Tại các đơn hởi iện, đơn hởi iện bổ sung, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a sơ thẩm, bà Hồ Thị G (là người hởi iện), ông Lê L (là người đại diện theo ủy quyền của bà Hồ Thị G, anh Nguyễn Văn N1 và chị Phạm Thị M1), ông Nguyễn Đình T2 (là người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn M) yêu cầu hủy Quyết định 2553, Quyết định 3150, Văn bản 1817, Quyết định 1263, Quyết định 1303 và trình bày:

Gia đình bà G x y dựng nhà ở và làm ăn, sinh sống trên thửa đ t số 229 tờ bản đồ số 13 từ sau ngày giải phóng đ t nước và đã được c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số vào sổ 00130 ngày 25/10/2000. Từ sau hi được c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t đến ngày có quyết định thu hồi đ t, gia đình bà G hông có yêu cầu chuyển đ t vườn thành đ t ở. Tại thời điểm UBND thị xã N có quyết định thu hồi đ t, hộ gia đình bà G có 07 nh n hẩu gồm: ông Nguyễn L (đã chết ngày 07/10/2013), bà Hồ Thị G, ông Nguyễn Văn N1, anh Nguyễn Văn T, anh Nguyễn Văn T1, chị Phạm Thị M1, anh Nguyễn Văn M, cháu Nguyễn Thùy V, cháu Nguyễn Văn Đ (cháu V, cháu Đ là con anh M).

Sau hi chồng bà G là ông Nguyễn L chết, th y danh sách các hộ gia đình được bồi thường hỗ trợ về dự án Trung t m điện lực V do ông L để trong tủ, bà G có đơn iến nghị (vào hoảng tháng 6/2015) về việc bồi thường và nhận được Văn bản 1817 vào ngày 28/8/2016. Đến năm 2016, bà G mới được nhận Quyết định 2553. Nay bà G yêu cầu hủy Quyết định 2553 vì quyết định này được ban hành trái pháp luật. Cụ thể: quyết định do Phó chủ tịch UBND là hông đúng thẩm quyền, hông căn cứ vào quyết định thu hồi đ t của UBND tỉnh là hông có căn cứ pháp l , chỉ thu hồi đ t của ông Nguyễn L trong hi Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số 00130 ngày 25/10/2000 được c p cho hộ ông Nguyễn L và bà Hồ Thị G là hông đúng đối tượng thu hồi đ t.

Ngoài ra, bà G yêu cầu hủy Văn bản 1817 và Quyết định 3150 về nội dung phê duyệt phương án bồi thường về đ t đối với thửa đ t số 229. Các nội dung hác của Quyết định 3150 bà G đồng , hông có yêu cầu gì. Cụ thể:

Diện tích thửa đ t số 229 là 13.030m2, bà G chuyển nhượng cho bà Dương Thị N 65m2, trong đó có 60m2 đ t ở và 05m2 đ t trồng c y l u năm, chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn N1 764,4m2, trong đó có 60m2 đ t ở và 704,4m2 đ t trồng c y l u năm; Diện tích đ t c n lại (theo hiện trạng) là 12.576,6m2 nhưng UBND thị xã N chỉ phê duyệt bồi thường diện tích đ t ở là 280m2 và hỗ trợ 60% giá đ t ở đối với 2000m2 đ t là hông phù hợp với quy định của Điều 45 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, Điều 5 Quyết định số 30/2005/QĐ-UB ngày 31/5/2005, hoản 3 Điều 15 Quyết định 101/2009/QĐ- UB ngày 21/12/2009 của UBND tỉnh Khánh H a.

Văn bản số 1817/QĐ-UBND ngày 22/8/2016 hông ch p nhận đơn hiếu nại của bà G là hông đúng pháp luật.

Ngày 26/6/2017, bà G nhận được quyết định 1263, ngày 28/6/2017, bà G nhận được Quyết định 1303, nay bà G giữ nguyên yêu cầu hởi iện trước đ y đồng thời yêu cầu hủy Quyết định 1263, Quyết định 1303 vì các quyết định này được ban hành hông đúng thẩm quyền, trái với quy định của Điều 44 Luật Đ t đai năm 2003 về thẩm quyền thu hồi đ t, trái với quy định của Điều 130 Nghị định 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ.

Kèm theo đơn hởi iện, bà G, ông Long đã giao nộp các bản sao: Quyết định 2553, Quyết định 3150, Văn bản 1817, Quyết định 1263, Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số L475301 số vào sổ c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t 00130/QSDĐ/NP-NH ngày 25/10/2000, sổ hộ hẩu gia đình, các bản pho to: các Quyết định số 2543/QĐ-UBND ngày 06/12/2012, Quyết định số 950/QĐ-UBND ngày 18/7/2013 của UBND thị xã N về việc phê duyệt, phê duyệt bổ sung inh phí bồi thường, hỗ trợ cho hộ ông Nguyễn L hi Nhà nước thu hồi đ t để thực hiện dự án Trung t m điện lực V, xã N, thị xã N, Đơn xin đăng quyền sử dụng đ t, Đơn xin xác nhận nguồn gốc đ t của ông Nguyễn L.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên t a sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của người bị iện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị iện trình bày:

Quyết định số 2553 và Quyết định số 3150 có nội dung thu hồi đ t của ông Nguyễn L, phê duyệt inh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Nguyễn L là có sai sót nên các Quyết định 1263 và Quyết định 1303 đã điều chỉnh lại đối tượng bị thu hồi đ t và đối tượng được phê duyệt inh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư là hộ ông Nguyễn L và bà Hồ Thị G.

Diện tích đ t thửa số 229 hộ gia đình bà G được c p gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t là 13.030m2. Sau hi chuyển nhượng cho bà Nga và anh N1, diện tích đ t c n lại của hộ bà G tại thửa 229 là 12.576,6m2. UBND thị xã N đã phê duyệt bồi thường về đ t ở cho bà G trên cơ sở pháp l là Quyết định 101/2009/QĐ-UB ngày 21/12/2009 của UBND tỉnh Khánh H a (quy định về bồi thường đ t đối với các trường hợp được c p Gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t trước Luật đ t đai năm 2003, diện tích đ t ở được xác định theo hạn mức đ t ở quy định tại Quyết định số 30/2005/QĐ-UB ngày 31/3/2005 của UBND tỉnh Khánh H a). Theo các quy định này, thửa đ t số 229 của hộ bà G có hạn mức đ t ở là 400m2, bà G đã chuyển nhượng 120m2 đ t ở (chỉ bằng hình thức gi y viết tay chưa qua các thủ tục theo quy định của pháp luật) nên diện tích đ t ở hộ gia đình bà G được bồi thường tại thửa đ t này là 280m2. Các nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Quyết định 3150 đều được xem xét quyết định đối với hộ gia đình ông Nguyễn L, bà Hồ Thị G theo số nh n hẩu ghi trong sổ hộ hẩu gia đình theo đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Văn bản số 1817/QĐ-UBND ngày 22/8/2016 của Chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã N trả lời đơn iến nghị của bà G là đúng pháp luật.

Nay UBND thị xã N và Chủ tịch UBND thị xã N hông ch p nhận yêu cầu của người hởi iện và giữ nguyên các quyết định nêu trên.

Bà Dương Thị N và các anh Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1 đã nhiều lần được t a án triệu tập nhưng hông đến T a tham gia tố tụng và hông có iến trình bày.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 16/2017/HC-ST ngày 22/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:

Căn cứ các Điều 39, 41, 42 và 44 Luật Đ t đai năm 2003, hoản 4 Điều 57, điểm a hoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính,

Bác yêu cầu của bà Hồ Thị G về việc yêu cầu hủy Quyết định số 2553/QĐ-UBND ngày 08/7/2011 của Ủy ban nh n d n thị xã N về việc thu hồi đ t của hộ gia đình, cá nh n để thực hiện dự án Trung t m điện lực V xã N, thị xã N, Quyết định số 3150/QĐ-UBND ngày 21/9/2011 của Ủy ban nh n d n thị xã N về việc phê duyệt inh phí bồi thường, hỗ trợ cho ông Nguyễn L khi Nhà nước thu hồi đ t để thực hiện dự án Trung tâm điện lực V xã N, thị xã Ninh Hoà, Văn bản số 1817/UBND ngày 22/8/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã N trả lời đơn của bà Hồ Thị G về việc iến nghị xem xét lại phương án bồi thường, Quyết định số 1263/QĐ-UBND ngày 26/6/2017 của Ủy ban nhân dân thị xã N về việc điều chỉnh, bổ sung một phần nội dung Quyết định số 2553/QĐ-UBND ngày 08/7/2011 của UBND thị xã N; Quyết định số 1303/QĐ-UBND ngày 28/6/2017 của Ủy ban nh n d n thị xã N về việc điều chỉnh tên người sử dụng đ t tại Quyết định số 3150/QĐ-UBND ngày 21/9/2011 của UBND thị xã N.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm c n quyết định về phần án phí và quyền háng cáo của các đương sự.

Ngày 07/9/2017, người hởi iện bà Hồ Thị G háng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên t a phúc thẩm, người hởi iện bà Hồ Thị G do ông Lê L đại diện theo ủy quyền giữ nguyên đơn hởi iện và yêu cầu háng cáo. Người bị iện Ủy ban nh n d n thị xã N, tỉnh Khánh H a và Chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã N, tỉnh Khánh H a do ông Nguyễn Vĩnh Thạnh đại diện theo ủy quyền. Tại văn bản xin xét xử vắng mặt của ông Nguyễn Vĩnh Thạnh hông thể hiện việc rút Quyết định số 2553/QĐ-UBND ngày 08/7/2011 của Ủy ban nh n d n thị xã N; Quyết định số 3150/QĐ-UBND ngày 21/9/2011 của Ủy ban nh n d n thị xã N, Văn bản số 1817/UBND ngày 22/8/2016 của Chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã N, Quyết định số 1263/QĐ-UBND ngày 26/6/2017 của Ủy ban nh n d n thị xã N, Quyết định số 1303/QĐ-UBND ngày 28/6/2017 của Ủy ban nh n d n thị xã N. Ông Lê L yêu cầu T a án c p phúc thẩm hủy các quyết định và văn bản nói trên của Ủy ban nh n d n thị xã N và Chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã N. Ông Lê L cho rằng diện tích đ t của gia đình bà Hồ Thị G tại thửa đ t số 229 là 13.030m2, bà G chuyển nhượng cho bà Dương Thị N 65m2, trong đó có 60m2 đ t ở, chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn N1 764,4m2, trong đó có 60m2 đ t ở, c n lại 12.576,6m2 nhưng Ủy ban nh n d n thị xã N chỉ bồi thường diện tích đ t ở là 280m2 và hỗ trợ 60% giá đ t ở đối với 2000m2 đ t là hông phù hợp mà phải bồi thường toàn bộ là đ t ở mới đúng. Bản án sơ thẩm xử bác yêu cầu của bà Hồ Thị G là hông đúng nên yêu cầu T a án c p phúc thẩm xem xét lại.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị iện Ủy ban nh n d n thị xã N và Chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã N đề nghị Hội đồng xét xử hông ch p nhận háng cáo của người hởi iện bà Hồ Thị G và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện iểm sát nh n d n c p cao tại Đà N ng cho rằng về phần thủ tục tố tụng ở giai đoạn xét xử phúc thẩm đảm bảo đúng quy định pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử hông ch p nhận háng cáo của người hởi iện bà Hồ Thị G và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau hi nghe người hởi iện, người bị iện trình bày, căn cứ vào các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, iến đại diện Viện iểm sát nh n d n c p cao tại Đà N ng, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

. Tại Quyết định số 2553/QĐ-UBND ngày 08/7/2011 và Quyết định số 3150/QĐ-UBND ngày 21/9/2011 của Ủy ban nh n d n thị xã N về việc thu hồi đ t, phê duyệt inh phí bồi thường, hỗ trợ đối với người sử dụng đ t ông Nguyễn L là hông đúng theo gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t số L475301 ngày 25/10/2000 của Ủy ban nh n d n huyện N (nay là Ủy ban nh n d n thị xã N) c p cho hộ ông Nguyễn L, bà Hồ Thị G. Việc sai sót này đã được Ủy ban nh n d n thị xã N điều chỉnh tại các Quyết định số 1263/QĐ-UBND ngày 26/6/2017 và Quyết định số 1303/QĐ-UBND ngày 28/6/2017 đối với hộ ông Nguyễn L và bà Hồ Thị G.

. Xét nội dung phê duyệt bồi thường, hỗ trợ thì th y: Ông Lê L thừa nhận hộ bà Hồ Thị G có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn N1 diện tích đ t 764,4m2, trong đó có 60m2 đ t ở và chuyển nhượng cho bà Dương Thị N 65m2, trong đó có 60m2 đ t ở. Do đó Ủy ban nh n d n thị xã N bồi thường diện tích đ t ở cho hộ ông Nguyễn L và bà Hồ Thị G là 280m2 (400m2 – 120m2) và phê duyệt hỗ trợ 60% giá đ t ở đối với 2000m2 là đúng theo Quyết định số 101/2009/QĐ-UBND ngày 21/12/2009 của Ủy ban nh n d n tỉnh Khánh H a. Việc ông Lê L yêu cầu Ủy ban nh n d n thị xã N bồi thường toàn bộ 12.576,6m2 đ t ở cho hộ bà Hồ Thị G là hông có cơ sở. Bản án hành chính sơ thẩm của T a án nh n d n tỉnh Khánh H a xử bác đơn hởi iện của bà Hồ Thị G về việc yêu cầu hủy các Quyết định số 2553/QĐ-UBND ngày 08/7/2011, số 3150/QĐ-UBND ngày 21/9/2011, số 1263/QĐ-UBND ngày 26/6/2017, số 1303/QĐ-UBND ngày 28/6/2017 của Ủy ban nh n d n thị xã N và văn bản số 1817/UBND ngày 22/8/2016 của Chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã N là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử t a án c p phúc thẩm hông ch p nhận háng cáo của người hởi iện bà Hồ Thị G và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Do yêu cầu háng cáo hông được ch p nhận nên người hởi iện bà Hồ Thị G phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Những phần quyết định hác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên hông xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ hoản 1, Điều 241 Luật tố tụng hành chính:

1. Bác háng cáo của người hởi iện bà Hồ Thị G và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

Căn cứ các Điều 39, 41, 42 và 44 Luật Đ t đai năm 2003, hoản 4 Điều 57, điểm a hoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính,

Bác đơn hởi iện của bà Hồ Thị G về việc yêu cầu hủy Quyết định số 2553/QĐ-UBND ngày 08/7/2011 của Ủy ban nh n d n thị xã N về việc thu hồi đ t của hộ gia đình, cá nh n để thực hiện dự án Trung t m điện lực V xã N, thị xã N, Quyết định số 3150/QĐ-UBND ngày 21/9/2011 của Ủy ban nh n d n thị xã N về việc phê duyệt inh phí bồi thường, hỗ trợ cho ông Nguyễn L khi Nhà nước thu hồi đ t để thực hiện dự án Trung t m điện lực V xã N, thị xã Ninh Hoà, Văn bản số 1817/UBND ngày 22/8/2016 của Chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã N trả lời đơn của bà Hồ Thị G về việc iến nghị xem xét lại phương án bồi thường, Quyết định số 1263/QĐ-UBND ngày 26/6/2017 của Ủy ban nh n d n thị xã N về việc điều chỉnh, bổ sung một phần nội dung Quyết định số 2553/QĐ-UBND ngày 08/7/2011 của UBND thị xã N; Quyết định số 1303/QĐ-UBND ngày 28/6/2017 của Ủy ban nh n d n thị xã N về việc điều chỉnh tên người sử dụng đ t tại Quyết định số 3150/QĐ-UBND ngày 21/9/2011 của UBND thị xã N.

2. Về án phí: Bà Hồ Thị G phải chịu 300.000đ án phí hành chính phúc thẩm, được trừ 300.000đ bà Hồ Thị G đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000305 ngày 15/9/2017 của Cục thi hành án d n sự tỉnh Khánh H a.

3. Các quyết định hác của bản án sơ thẩm về phần án phí không có háng cáo, háng nghị đã có hiệu lực pháp luật ể từ ngày hết thời hạn háng cáo, háng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ