- Tranh chấp gì? "Nguyễn Kỳ P trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Kỳ P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t; Điều 106 Bộ luật T tụng hình sự Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án s : 14/2022/HS-ST Ngày: 03-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Hùng và ông Bạch Nhật Tuyến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân – Th ký Tòa án nhân dân thành ph a Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Quốc Khanh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành ph a Đéc, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý s 16/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử s 14/2022/QĐXX T-HS ngày 23tháng 5 năm 2022 đ i với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Kỳ P, sinh năm 1984 tại thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
Nơi c trú: Khóm H, ph ờng A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
Nghề nghiệp: làm thuê;
Trình độ học vấn: 9/12
Dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam
Con ông: Nguyễn Văn P1 (chết) và bà Bùi Kim N (chết)
Vợ: Võ Thị D, sinh năm 1985
Con: có 01 con tên Võ Kỳ Q, sinh năm 2018
Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân: Ngày 15/6/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “C ý gây th ơng tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/01/2017, thi hành xong án phí ngày 10/7/2015, đã đ ợc xóa án tích.
Tạm giữ, tạm giam: không
Hiện bị cáo tại ngoại; áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi c trú.
Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1963 (vắng mặt)
Nơi c trú: Khóm H, ph ờng A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
2- Chị Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Nơi c trú: Khóm G, ph ờng A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Ngọc C1, sinh năm 1968 (có mặt)
Nơi c trú: Khóm H, ph ờng A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:
Trong khoảng thời gian từ 13/2/2021 đến ngày 26/5/2021 Nguyễn Kỳ P đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành ph , tỉnh Đồng Tháp các vụ nh sau:
- Vụ 1: Vào khoảng 03 giờ 05 phút ngày 13/02/2021 Nguyễn Kỳ P điều khiển xe mô tô biển s 66 1-006.01, khi đến kho gạo M tọa lạc khóm H, ph ờng A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp, do chị Nguyễn Thị C làm chủ.
P phát hiện bên trong hàng rào có 02 cây mai vàng, nh ng cửa rào không khóa và không có ng ời trông giữ. Thấy vậy, P đi vào dùng tay nhổ 02 cây mai vàng mang ra để phía sau xe rồi điều khiển xe chạy về nhà cất giấu.
Đến khoảng 07 giờ ngày 14/02/2021, P đem bán 02 cây mai vàng cho anh Nguyễn Ngọc C1 với giá 1.000.000 đồng, s tiền bán mai có đ ợc P tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ 2: Vào khoảng 22 giờ 20 phút ngày 26/5/2021, Nguyễn Kỳ P điều khiển xe mô tô biển s 66 1-006.01 l u thông trên đ ờng V.
Khi đến tr ớc cơ sở sản xuất chậu kiểng L tọa lạc khóm H, ph ờng A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp do chị Nguyễn Ngọc B làm chủ, P phát hiện cơ sở không có cửa rào, không ng ời trông giữ nên P dừng xe cặp lề đ ờng, rồi đi bộ vào trong lấy tài sản:
- 02 chậu kiểng màu nâu đỏ, loại chậu bằng xi măng, đ ờng kính mặt chậu khoảng 50cm đem ra để lên xe mô tô chở đi.
Khi P lên xe chạy đ ợc khoảng 400 mét thì bị Công an ph ờng A, thành ph S kiểm tra thu giữ 02 chậu kiểng và xe mô tô biển s 66 1-006.01
Quá trình điều tra, anh Nguyễn Ngọc C1 đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra gồm:
- 01 cây mai vàng có bề hoành g c khoảng 20cm, cao khoảng 100cm, đ ờng kính tán khoảng 100cm;
- 01 cây mai vàng có bề hoành g c khoảng 30cm, cao khoảng 100cm, đ ờng kính tán khoảng 100cm.
Ngoài ra, Công an còn trích xuất camera tại kho gạo M có l u giữ hình ảnh P thực hiện hành vi lấy trộm 02 cây mai vàng.
Tại biên bản và kết luận định giá tài sản s 49/HĐ.ĐGT và s 50/HĐ.ĐGT cùng ngày 10/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong t tụng hình sự thành ph a Đéc kết luận:
- 02 chậu kiểng bằng xi măng, sơn màu nâu đỏ, đ ờng kính mặt chậu khoảng 50cm (đã thu hồi đ ợc), vào thời điểm bị chiếm đoạt ngày 26/5/2021 có trị giá là 160.000 đồng;
- 01 cây mai vàng có bề hoành g c khoảng 20cm, cao khoảng 100cm, đ ờng kính tán khoảng 100cm (đã thu hồi đ ợc) vào thời điểm bị chiếm đoạt ngày 13/02/2021 có trị giá là 1.500.000 đồng;
- 01 cây mai vàng có bề hoành g c khoảng 30cm, cao khoảng 100cm, đ ờng kính tán khoảng 100cm (đã thu hồi đ ợc) vào thời điểm bị chiếm đoạt ngày 13/02/2021 có trị giá là 3.000.000 đồng;
Tổng trị giá tài sản là 4.660.000 đồng.
Quá trình điều tra, P khai: khi bán 02 cây mai vàng có nói cho anh Nguyễn Ngọc C1 biết do trộm mà có. Tại phiên tòa bị cáo xác định khi bán 02 cây mai vàng có nói cho anh C1 là 02 cây mai do bạn của P gửi bán.
Đ i với anh C1 trình bày khi bán 02 cây mai vàng, P không có nói do trộm mà có, P nói là của ng ời bạn gửi bán dùm nên anh C1 mới đồng ý mua. Anh C1 cũng đã giao nộp 02 cây mai vàng cho cơ quan điều tra.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả tài sản:
- 02 chậu kiểng cho chị Nguyễn Ngọc B;
- 02 cây mai vàng cho chị Nguyễn Thị C;
Chị B và chị C nhân xong, không có yêu cầu gì.
Đ i với xe mô tô biển s 66 1-006.01, hiệu NEWEI, màu xanh, s khung CX-61001958, s máy FNH-A002132, P trình bày: vào năm 2021 P mua xe mô tô trên của một ng ời đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng, không có làm giấy tờ, xe không có giấy đăng ký xe . Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do chị Huỳnh Thị T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe ch a sang tên cho P. Qua trích lục tàng th xác định xe mô tô do chị Huỳnh Thị T đứng tên giấy chứng nhận đăng ký xe và không có thông tin bị chiếm đoạt. Qua xác minh, chị T đã đi khỏi nơi c trú, đi đâu không rõ.
Tại bản cáo trạng s 15/CT-VKSTP Đ ngày 12/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành ph a Đéc đã truy t bị cáo Nguyễn Kỳ P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph a Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị:
p dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Kỳ P về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến bào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt, xin đ ợc h ởng án treo.
Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh sau:
Về thủ tục t tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong vụ án đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục t tụng của Bộ luật T tụng hình sự trong quá trình khởi t , điều tra, truy t . Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những ng ời tham gia t tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan t tụng và ng ời tiến hành t tụng nên các chứng cứ, tài liệu thu thập đ ợc trong hồ sơ vụ án là hợp pháp, đúng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản và kết luận định giá tài sản các s 49/HĐ.ĐGT và s 50/HĐ.ĐGT cùng ngày 10/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong t tụng hình sự thành ph a Đéc và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đ ợc có trong hồ sơ vụ án.
Qua đó đủ cơ sở xác định: Vào các ngày 13/02/2021 và ngày 26/5/2021 trên địa bàn khóm H, ph ờng A, thành ph S, tỉnh Đồng Tháp, Nguyễn Kỳ P đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 02 cây mai vàng của chị Nguyễn Thị C, 02 chậu kiểng của chị Nguyễn Ngọc B với tổng trị giá tài sản là 4.660.000 đồng nhằm mục đích t lợi cá nhân.
Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của ng ời khác. Bị cáo là ng ời đã thành niên nên bị cáo nhận thức đ ợc quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân đ ợc pháp luật bảo vệ. Hành vi xâm phạm trái pháp luật tài sản của ng ời khác, dù bằng hình thức nào, đều vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý. Thế nh ng, do bản tính tham lam, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của các bị hại trong việc quản lý tài sản nên bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại.
Bị cáo phạm tội với l i c ý, động cơ mục đích t lợi cá nhân. Thủ đoạn thực hiện tội phạm của bị cáo táo bạo, liều lĩnh: tuy thời điểm phạm tội là vào đêm khuya, nh ng địa điểm phạm tội là trên địa bàn khóm H, ph ờng A, thành ph S nên có đông dân c , tài sản chiếm đoạt là vật cồng kềnh, nếu chiếm đoạt tài sản sẽ dễ bị phát hiện và bị bắt, nh ng bị cáo không sợ sệt, không sợ bị phát hiện. Với bản tính tham lam, xem th ờng pháp luật, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của các bị hại trong việc quản lý tài sản nên bị cáo đã lén lút chiếm đoạt rồi nhanh chóng tẩu thoát, sau đó bị phát hiện và bị bắt.
Bị cáo là ng ời đã có vợ và có con, về nhân thân của bị cáo đã từng bị xét xử về tội “C ý gây th ơng tích”. Nếu biết ăn năn h i cải thì bị cáo phải biết rèn luyện phẩm chất đạo đức, c gắng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu bản than, chăm lo cho gia đình và làm tấm g ơng t t cho con cái noi theo. Thế nh ng với bản tính tham lam, xem th ờng pháp luật, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại với tổng trị giá 4.660.000 đồng để rồi một lần nữa đi vào con đ ờng phạm tội.
Từ những phân tích trên cho thấy, hành vi của bị cáo là đủ yếu t cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) …………..”
Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo tuy thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng, nh ng hành vi của bị cáo là táo bạo liều lĩnh, thể hiện sự xem th ờng pháp luật. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. Xét thấy, phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng ng ời, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành ng ời công dân t t, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của ng ời khác, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Đ i với bị cáo P xin giảm nhẹ hình phạt và xin đ ợc h ởng án treo là không phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội bị cáo nên không chấp nhận đề nghị của bị cáo.
t nh ti t t ng nặng: Không.
t nh ti t giảm nhẹ: Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải, tài sản bị chiếm đoạt đã đ ợc thu hồi và hoàn trả cho bị hại nhận xong, bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo, vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đ i với bị cáo.
trách nhiệm dân sự:
Đ i với s tiền 1.000.000 đồng anh C1 mua 02 cây mai vàng của P, P đã tiêu xài hết, anh C1 không yêu cầu P trả lại nên không xem xét giải quyết.
xử lý vật chứng:
Đ i với 01 xe mô tô biển s 66 1-006.01, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của Nguyễn Kỳ P, P sử dụng xe mô tô trên làm ph ơng tiện thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà n ớc.
(Hiện xe mô tô trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành ph a Đéc đang quản lý).
Đ i với 01 U B có l u giữ hình ảnh P thực hiện hành vi lấy trộm 02 cây mai vàng của chị Nguyễn Thị C cần tiếp tục quản lý để l u hồ sơ vụ án.
án phí: Bị cáo Nguyễn Kỳ P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo xác định khi bán 02 cây mai vàng có nói cho anh C1 là 02 cây mai do bạn của P gửi bán, anh C1 trình bày khi P bán 02 cây mai cho anh C1 thì P nói của bạn gửi bán dùm và khi hai bên mua bán không có ai chứng kiến, quá trình điều tra ngoài lời khai của P thì không có căn cứ nào khác chứng minh anh Nguyễn Ngọc C1 tiêu thụ tài sản do P lấy trộm mà có nên không có căn cứ xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Kỳ P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Kỳ P mức án 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời gian tù tính từ bị cáo chấp hành hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật T tụng hình sự
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01 xe mô tô biển s 66 1-006.01, nhãn hiệu NEWEI, màu xanh, s khung CX-61001958, s máy FNH-A002132. Hiện trạng xe đang bị h hỏng, không có giàn áo xe, xe đã qua sử dụng, ch a kiểm tra chất l ợng, xe trên của Nguyễn Kỳ P (xe không có giấy đăng ký xe mô tô, xe máy).
(Hiện xe mô tô nêu trên do Chi cục Thi hành án dân sự thành ph a Đéc đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/5/2022).
Tiếp tục quản lý:
- 01 U B có l u giữ hình ảnh P thực hiện hành vi lấy trộm 02 cây mai vàng của chị Nguyễn Thị C để l u hồ sơ vụ án.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật T tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016
Bị cáo Nguyễn Kỳ P nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Riêng bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đ ợc bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh ĐT; (1b) - VK ND TP a Đéc; (2b) - Công an TP a Đéc; (4b) - Chi cục THA TP a Đéc; (1b) - ở T pháp; (1b) - Thi hành án phạt tù; (1b) - Những ng ời tham gia t tụng; (4b) - L u VT, TP; (2b) - L u hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Bé Mười |