- Tranh chấp gì? "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đức V đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án : 14/2020/HS-ST Ngày : 16/01/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Xuyến
Ông Nguyễn Bá Duy Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thủy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện VKSND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 108/2019/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Đức V, tên gọi khác: Nguyễn Thành T, Vũ N, Lê Đức Ph, sinh năm 1968; tại TP. Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số 702/109/15 đường Đ, Phường 10, Quận 10, TP. Hồ Chí Minh; chỗ ở: Phòng 5, Tầng 23, Lốc B1, Chung cư T, Phường 4, Quận 8, TP. Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: thợ bạc; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đức H (chết) và bà Nguyễn Thị H (chết); có vợ Hoàng Thị Thu H và 02 con; tiền án: Ngày 29/8/2006, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù giam về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (Bản án số 1232/2006/HSST); tiền sự: không; nhân thân: Ngày 20/12/1988, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù giam về tội “Cướp tài sản của công dân” và 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Bản án số 678); Ngày 01/9/2010, bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 131/2010/HSST); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/9/2019 (bị cáo có mặt).
- Bị hại: Bà Hoàng Thị Kim L, sinh năm 1975
Nơi cư trú: số 157 đường H, Hưng Thịnh, Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 04 giờ ngày 24/4/2019, Lê Đức V đến Bệnh viện Bình Dân tại số 371 đường Đ, Phường 4, Quận 3 tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến phòng số D111 thì phát hiện 01 cái bóp của chị Hoàng Thị Kim L bên trong có số tiền 900.000 đồng và 01 thẻ ATM để ngăn tủ trên phía đầu giường nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. V đi đến tủ và dùng tay trái lấy chiếc bóp thì bị anh Phạm Hữu Th phát hiện, đuổi theo và bắt giữ giao Công an Phường 4, Quận 3 và chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 3 xử lý.
Xét thấy V đã có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Quận 3 đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Quá trình điều tra, bị can V thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 93/CT-VKS-HS ngày 29/11/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, lời khai của nhân chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đầy đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Lê Đức V là đối tượng đã bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, chưa xóa án tích. Khoảng 04 giờ ngày 24/4/2019, tại Bệnh viện Bình Dân số 371 đường Điện Biên Phủ, Phường 4, Quận 3 bị cáo V đã lén lút lấy trộm số tiền 900.000 đồng của chị Hoàng Thị Kim L. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét, bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham nên vẫn cố ý thực hiện việc phạm tội. Hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã không chỉ trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương.
Xét, bị cáo có nhân thân xấu cần phải có mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên cũng xét, bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn, hối cải; tài sản đã được thu hồi giao trả cho bị hại nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cái bóp cầm tay màu nâu, nhãn hiệu Boivia, bên trong có số tiền 900.000 đồng và 01 thẻ ATM. Theo Công văn số 28/HĐĐG ngày 17/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 3, do không có thông tin về chất liệu, chủng loại, mẫu mã, nguồn gốc xuất xứ nên Hội đồng định giá không có cơ sở để định giá. Ngày 26/4/2019, cơ quan điều tra trả lại tài sản trên và bị hại không có yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Đức V đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Lê Đức V 10 (mười) tháng tù.
Th hạn tù tính từ ngày bắt chấp hành án.
Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND TP. HCM; - VKSND Quận 3; - Công an Quận 3; - Nhà tạm giữ CAQ.3; - Sở Tư pháp; - Chi cục THADS Q.3; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Huệ Chi |