vanban.org

Bản án 14/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Họ và tên: Nguyễn Đức B, sinh ngày 06/10/2012.

Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam. Số căn cước công dân: 024212024644. Nghề nghiệp: Học sinh. Nơi cư trú: Thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh. Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Hoàng Thị L. 2. Thời gian chấp hành tại trường G là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày Nguyễn Đức B bị tạm giữ để đưa vào trường gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Đức B vào trường giáo dưỡng g"
  • Tòa quyết gì? Họ và tên: Nguyễn Đức B, sinh ngày 06/10/2012.
  • Căn cứ chính? Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC Quy đị…; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/QĐ-TABắc Ninh, ngày 22 tháng 4 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào trường giáo dưỡng

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – BẮC NINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có: 1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: Bà Lê Hồng T. 2. Thư ký phiên họp: Bà Ngô Thị Mai. Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Bắc Ninh tiến hành phiên họp xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào trường giáo dưỡng” theo quyết định mở phiên họp số 01/2026/QĐST-PH ngày 15 tháng 4 năm 2026 đối với:

Họ và tên NGUYỄN ĐỨC B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.

Ngày, tháng, năm sinh 06/10/2012

Số căn cước công dân: 024212024644.

Nơi cư trú: Thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh.

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12

Tiền án: Chưa có; Tiền sự: Chưa có.

Nghề nghiệp: Học sinh.

Con ông: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986; Con bà: Hoàng Thị L, sinh năm 1987. Cùng nơi cư trú: Thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh.

- (có mặt tại phiên họp).

* Người đại diện theo pháp luật của Nguyễn Đức B:

- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986 - (có mặt);

- Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1987 – (có mặt); Cùng cư trú: Thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh. Có sự tham gia của: 1. Đại diện cơ quan đề nghị: Công an xã P, tỉnh Bắc Ninh; Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Việt H - Trưởng Công an xã; Đại diện theo ủy quyền: ông Giáp Văn T2 - Cán bộ công an xã - (có mặt). 2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Bắc Ninh tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên (có mặt).

Những người khác tham gia phiên họp:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyễn Đức B: Bà Giáp Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B - (có mặt).

- Cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em của UBND xã P, tỉnh Bắc Ninh: Bà Nguyễn Hồng L1 – Công chức Phòng Văn hóa xã - (có mặt).

- Đại diện Trường Trung học cơ sở L2: Ông Trần Văn P – Hiệu trưởng - Địa chỉ trụ sở: xã P, tỉnh Bắc Ninh – (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).

NHẬN THẤY

Tại văn bản đề nghị số 284/ĐN-CAPH ngày 08/4/2026 của Công an xã P, tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Đức B có những hành vi vi phạm pháp luật như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 24/01/2026, Nguyễn Đức B đang nằm trên giường ở nhà thì cháu Nguyễn Anh Tuệ N, sinh năm 2022 là hàng xóm ngay cạnh nhà B sang chơi. Thấy B nằm ở giường thì cháu N cũng leo lên giường và nằm cạnh B. Lúc này B nảy sinh ý định quan hệ tình dục với cháu N nên B ngồi dậy, tụt quần xuống đầu gối rồi B cũng tụt quần của cháu N qua đầu gối, sau đó B dùng hai tay cầm vào hai chân của cháu N rạng rộng ra, lúc này dương vật của B cương cứng, B quỳ gối trước hai chân của cháu N rồi hạ thấp người về phía trước, hai tay chống cạnh hai vai cháu N rồi cúi đầu xuống để nhìn và đút dương vật đang cương cứng vào trong âm đạo của cháu N. B cho khoảng 1/3 dương vật vào âm đạo của cháu N trong vòng 01 phút thì nghe thấy tiếng ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1965 là ông nội của cháu N gọi ở ngoài cổng nên B kéo quần của B và của cháu N lên rồi cùng cháu N đi ra ngoài sân, sau đó ông của cháu N đã đưa cháu N về nhà. Khi ra khỏi cổng thì cháu N có kể với ông V rằng “anh B cởi quần con và cởi quần anh B, sau đó anh B dí chim vào mông con”. Đến tối cùng ngày khi mẹ cháu N là chị Nguyễn Thị M tắm cho cháu N thì cháu N cũng kể với chị M về nội dung như trên. Thấy vậy gia đình chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Tuấn A là bố mẹ của cháu N đã gọi Nguyễn Đức B và bố mẹ của B là anh Nguyễn Văn T1 và chị Hoàng Thị L lên để nói chuyện thì cháu B có thừa nhận về việc đã cởi quần cháu N và cho dương vật chạm vào âm đạo của cháu N. Nguyễn Đức B cũng đã thừa nhận đã thực hiện hành vi xâm hại tình dục với cháu N tổng là hai lần, một lần trước đó vào ngày 10/01/2026 với hành vi tương tự như trên. Nhận thấy hành vi của Nguyễn Đức B là vi phạm pháp luật nên anh Nguyễn Tuấn A đã đến Công an xã P, tỉnh Bắc Ninh trình báo về sự việc trên. Hành vi của B có dấu hiệu của tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 3, Điều 142 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi, Nguyễn Đức B chưa đủ 14 tuổi (13 tuổi 03 tháng 04 ngày và 13 tuổi 03 tháng 18 ngày) nên Nguyễn Đức B chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật Hình sự. Ngày 08/4/2026 trưởng Công an xã P, tỉnh Bắc Ninh đã có văn bản đề nghị số 284/ĐN - CAPH đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Bắc Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào trường G” đối với Nguyễn Đức B. Tại phiên họp:

* Đại diện theo ủy quyền của trưởng Công an xã P, tỉnh Bắc Ninh – ông Giáp Văn T2 giữ nguyên quan điểm đề nghị tại văn bản đề nghị số 284/ĐN – CAPH ngày 08/4/2026.

* Người bị đề nghị (cháu B) và người đại diện theo pháp luật của người bị đề nghị (ông T1, bà L) đồng ý với quan điểm của Công an P và không có ý kiến gì.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Nguyễn Đức B: Bà Giáp Thị H1 đồng ý với quan điểm của Công an xã P và đề nghị đưa Nguyễn Đức B vào trường giáo dưỡng trong thời gian từ 20 đến 22 tháng.

* Đại diện cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em của UBND xã P, Bắc Ninh: Bà Nguyễn Hồng L1 đồng ý với quan điểm của Công an xã P.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Bắc Ninh đề nghị:

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 9, m khoản 1 Điều 10, Khoản 1 Điều 92, Điều 99 Luật xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi, bổ sung năm 2025); các Điều 3; Điều 4 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT ngày 01/3/2025 của Bộ C - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Tòa án nhân dân tối cao quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G. Đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 -Bắc Ninh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đối với Nguyễn Đức B trong thời gian từ 20 đến 24 tháng.

XÉT THẤY

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đề nghị đã được thẩm tra tại phiên họp, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của những người tham gia phiên họp, xét thấy: Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Ngày 10/01/2026 đến ngày 24/01/2026, Nguyễn Đức B, hai lần thực hiện hành vi hiếp dâm cháu Nguyễn Anh Tuệ N, sinh ngày 24/7/2022 là hành vi rất nghiêm trọng xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của cháu N. B đã thừa nhận toàn bộ hành vi quan hệ tình dục cháu N của B. Hành vi của B có dấu hiệu phạm tội "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi", quy định tại khoản 3 Điều 142 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn Đức B chưa đủ 14 tuổi nên B chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ Luật hình sự.

Ngày 24/3/2026, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Đến ngày 02/4/2026, chuyển hồ sơ cho Công an xã P, tỉnh Bắc Ninh đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dưỡng là đúng với quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự, khoản 3 Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 92 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Ngày 06/4/2026, Công an xã P ra Quyết định số 271 Quyết định giao quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G, thông báo số 272 thông báo về việc hoàn thành việc lập hồ sơ và giao cho Nguyễn Đức B và anh Nguyễn Văn T1 và chị Hoàng Thị L là bố, mẹ đẻ B biết. Ngày 08/4/2026, Công an xã P đã lập Biên bản về việc đọc, ghi chép và sao chụp hồ sơ và có văn bản số 284 đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 3 - Bắc Ninh áp dụng biện pháp đưa vào Trường G với thời hạn 24 tháng đối với Nguyễn Đức B. Việc thiết lập hồ sơ của Công an xã P là theo đúng quy định tại Điều 99, 100 Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định số 140/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng, Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025 của Bộ C - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao. Xét về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm: Vào ngày 10/01/2026 và ngày 24/01/2026, Nguyễn Đức B, hai lần thực hiện hành vi hiếp dâm cháu Nguyễn Anh Tuệ N, sinh ngày 24/7/2022. Như vậy, B đã hai lần có hành vi quan hệ tình dục với cháu N, hành vi của B không phải là bột phát nhất thời thể hiện về nhận thức lệch lạc, ý thức coi thường pháp luật nghiêm trọng. Hành vi của B trực tiếp xâm phạm đến quyền bảo vệ an toàn của trẻ em, gây ra tổn thương cả về thể chất lẫn tâm lý cho cháu N. Gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân tại địa phương. Căn cứ vào mức độ nguy hiểm của hành vi, việc tiếp tục cho B sinh hoạt tại địa phương không còn phù hợp. Do đó, cần đưa Nguyễn Đức B vào trường giáo dưỡng một thời gian để B được giáo dục quản lý chặt chẽ trong môi trường kỷ luật, để B phát triển đúng đắn về nhân cách, trở thành người có ích cho gia đình, xã hội. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hành chính: B vi phạm hành chính đối với trẻ em nên bị áp dụng quy định tại điểm m khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hành chính: Trong quá trình làm việc Nguyễn Đức B tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, gia đình Nguyễn Đức B đã bồi thường cho cháu N số tiền 20.000.000 đồng, phía gia đình cháu N đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu gì thêm nên B được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Xét hành vi vi phạm của Nguyễn Đức B, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hành chính; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện nội dung vụ việc, diễn biến xảy ra tại phiên họp, ý kiến của trợ giúp viên pháp lý, ý kiến của cán bộ làm công tác bảo vệ trẻ em UBND xã P, tỉnh Bắc Ninh, ý kiến đề nghị Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Bắc Ninh: Xét thấy cần chấp nhận đề nghị của Trưởng Công an xã P, tỉnh Bắc Ninh và đề xuất của Viện kiểm sát: Đưa Nguyễn Đức B vào trường G một thời gian để B tiếp thu kiến thức giáo dục, thay đổi tâm tính, trở thành người tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Từ các nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 2 Điều 5; khoản 1, khoản 2 Điều 9; điểm m khoản 1 Điều 10; Điều 91; khoản 1 Điều 92, Điều 99; Điều 100, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 3, Điều 23, Điều 30, Điều 31, Điều 32 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Đưa vào trường G” đối với:

Họ và tên: Nguyễn Đức B, sinh ngày 06/10/2012.

Tên gọi khác: Không có. Giới tính: Nam. Số căn cước công dân: 024212024644. Nghề nghiệp: Học sinh. Nơi cư trú: Thôn L, xã P, tỉnh Bắc Ninh. Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Hoàng Thị L. 2. Thời gian chấp hành tại trường G là 22 (Hai mươi hai) tháng, kể từ ngày Nguyễn Đức B bị tạm giữ để đưa vào trường giáo dưỡng. 3. Nơi chấp hành quyết định: Trường G – Bộ C. 4. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Cháu Nguyễn Đức B, ông Nguyễn Văn T1, bà Hoàng Thị L có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Trưởng Công an xã P, tỉnh Bắc Ninh có quyền kiến nghị Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Bắc Ninh có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định. 5. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị. 6. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã P, tỉnh Bắc Ninh./.

Cỡ chữ