vanban.org

Bản án 14/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Trần Thị M đối với bà Nguyễn Thị X. Buộc bà Xuyến có trách nhiệm trả cho bà Mỹ số tiền vay là 20.

2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mỹ đối với số tiền 60.000.000 đồng. Về án phí: Bà X phải chịu 1.000.000 đồng. Bà M phải chịu 3.000.000 đồng khấu trừ 2.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 005463 ngày 06/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền; bà Mỹ phải nộp… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NĐ Trần Thị Mỹ BĐ Nguyễn Thị Xuyến"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Trần Thị M đối với bà Nguyễn Thị X. Buộc bà Xuyến có trách nhiệm trả cho bà Mỹ số tiền vay là 20.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG ĐIỀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/DS-ST
Ngày: 23 – 7 – 2019
V/v: Tr/chấp “Hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Hải

2. Ông Trần Thanh Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thanh Thảo, là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 23 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 65/2019/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2019 về việc “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 90/2019/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự :

* Nguyên đơn: Bà Trần Thị M, sinh năm 1964; nơi cư trú: số 411 ấp Nhơn Bình, xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ – Có mặt.

* Bị đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1964; nơi cú trú: số 404 ấp Nhơn Bình A, xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn trình bày: Khoảng tháng 5/2018 âm lịch, bà Mỹ có cho bà Nguyễn Thị Xuyến vay số tiền là 50.000.000 đồng. Sau đó khoảng 01 tháng, bà Mỹ tiếp tục cho bà Xuyến vay thêm 10.000.000 đồng. Bà Xuyến còn mượn thêm của bà Mỹ 04 lần nữa, mỗi lần 5.000.000 đồng. Thời gian cho vay tiền 04 lần sau, bà Mỹ không nhớ rõ. Tổng cộng, bà Mỹ đã cho bà Xuyến vay 80.000.000 đồng. Khi cho bà Xuyến vay tiền giữa bà Mỹ và bà Xuyến không có làm biên nhận, không thỏa thuận thời gian trả tiền. Hai bên thỏa thuận lãi suất là 9%/tháng. Bà Xuyến chỉ đóng lãi cho bà Mỹ được 03 tháng là ngưng. Do bà Xuyến vay nhiều lần, đóng lãi nhiều khớp khác nhau nên bà Mỹ không nhớ rõ là đã nhận bao nhiêu tiền lãi của bà Xuyến. Từ tháng 8/2018 âm

- 1 -

lịch, bà Xuyến bỏ địa phương đi, không trả nợ cho bà Mỹ. Sau đó, bà Xuyến về địa phương, bà Mỹ đã nhiều lần đòi nợ bà Xuyến nhưng bà Xuyến không trả nợ cho bà. Nay bà Mỹ yêu cầu bà Xuyến phải trả cho bà Mỹ số tiền mà bà Xuyến đã vay là 80.000.000 đồng, không yêu cầu trả lãi.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Xuyến trình bày: Bà Xuyến không đồng ý với phần trình bày của bà Mỹ. Bà Xuyến chỉ vay của bà Mỹ số tiền là 20.000.000 đồng từ năm 2013 âm lịch. Trong quá trình từ năm 2013 đến nay bà Xuyến đã trả cho bà Mỹ rất nhiều tiền lãi. Cụ thể như sau:

Vào ngày 20/11/2013 âm lịch, bà Xuyến có mượn 20.000.000 đồng của bà Mỹ. Khi vay hai bên không có làm biên nhận, không thỏa thuận thời gian trả tiền, thỏa thuận lãi suất là 10%/tháng. Do lãi quá cao, bà Xuyến chỉ đóng được một thời gian. Tới cuối năm 2014 âm lịch, bà Mỹ nói bà Xuyến còn nợ 10.000.000 đồng tiền lãi, bà Xuyến cũng đồng ý nên bà Mỹ đã cộng luôn tiền lãi này vào tiền gốc vì vậy số nợ tăng lên là 30.000.000 đồng. Cũng tương tự như vậy, đến cuối năm 2015, nợ của bà Xuyến tăng lên là 40.000.000 đồng. Đến ngày 10/12/2016 âm lịch, bà Mỹ nói bà Xuyến còn thiếu bà 15.000.000 đồng tiền lãi, tăng số nợ của bà Xuyến thành 55.000.000 đồng; thời điểm này bà Mỹ bớt lãi cho bà Xuyến còn 9%/tháng. Tiếp theo ngày 17/12/2017 âm lịch, bà Mỹ tổng cộng lại bà Xuyến còn thiếu 15.000.000 đồng tiền lãi, tăng tiền nợ thành 70.000.000 đồng. Đến ngày 30/3/2018 âm lịch, bà Xuyến thiếu bà Mỹ 10.000.000 đồng tiền lãi, tăng tiền lên thành 80.000.000 đồng. Bà Xuyến cho rằng bà trả lãi cho bà Mỹ quá nhiều vượt qua số nợ ban đầu. Nhưng lúc trả lãi thì hai bên không làm biên nhận gì hết. Nay bà Xuyến chỉ đồng ý trả cho bà Mỹ số tiền vốn là 20.000.000 đồng. Còn số tiền lãi mà bà Xuyến đã trả cho bà Mỹ trong thời gian qua vượt quá số vốn bà Xuyến không yêu cầu lấy lại.

Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ đã tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Qua kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp: xuất phát từ việc bà Nguyễn Thị Xuyến vay tiền của bà Trần Thị Mỹ và không trả tiền vay cho bà Mỹ. Bị đơn cùng cư trú tại ấp Nhơn Bình A, xã Nhơn Ái, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Về nội dung: bà Mỹ và bà Xuyến đều thừa nhận các bên có thực hiện giao dịch vay tài sản, cụ thể là bà Mỹ cho bà Xuyến vay tiền. Tuy nhiên, bà Mỹ cho rằng bà cho bà Xuyến vay số tiền 80.000.000 đồng vào đầu năm 2018. Còn

- 2 -

bà Xuyến cho rằng bà chỉ vay của bà Mỹ số tiền là 20.000.000 đồng vào năm 2013. Bà Xuyến trình bày số tiền 80.000.000 đồng mà bà Mỹ đòi bà trong đó chỉ có 20.000.000 đồng tiền vốn còn 60.000.000 đồng tiền lãi; do vậy bà Xuyến chỉ đồng ý trả cho bà Mỹ là 20.000.000 đồng tiền vốn ban đầu. Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận việc vay tiền không làm biên nhận, không thỏa thuận thời gian trả tiền chỉ có thỏa thuận bằng miệng. Xét thấy nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ nào mà bị đơn còn thiếu số tiền vốn là 80.000.000 đồng. Từ những căn cứ nêu trên chỉ có cơ sở buộc bị đơn hoàn trả lại số tiền vay mà bị đơn thừa nhận là 20.000.000 đồng.

Về lãi suất: do nguyên đơn không yêu cầu lấy lãi và bị đơn cũng không có yêu cầu điều chỉnh lại lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: bà Mỹ phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là 80.000.000 đồng – 20.000.000 đồng = 60.000.000 x 5% = 3.000.000 đồng; bà Xuyến phải chịu án phí đối với số tiền 20.000.000 đồng x 5% = 1.000.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm b khoản 1 Điều 39, các điều 147, Điều 463, 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” của bà Trần Thị M đối với bà Nguyễn Thị X. Buộc bà Xuyến có trách nhiệm trả cho bà Mỹ số tiền vay là 20.000.000 đồng.

2/ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mỹ đối với số tiền 60.000.000 đồng.

Về án phí: Bà X phải chịu 1.000.000 đồng. Bà M phải chịu 3.000.000 đồng khấu trừ 2.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 005463 ngày 06/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền; bà Mỹ phải nộp thêm 1.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- 3 -

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ