vanban.org

Bản án 14/2026/LĐ-PT — Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 08/09/2026 Lao động Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/09/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn ứ vào khoản 1 Điều 308 ủa Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không hấp nhận yêu ầu kháng áo ủa bà Mai Thị Lệ H; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 19/2026/LĐ-ST ngày 15 tháng 6 năm 2026 ủa Tòa án nhân dân khu vự 7, tỉnh Tây Ninh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động — án lao động — "Bản án số 14-LĐPT-08-9-2026- H -Cty TNHH MTV S- Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động"
  • Tòa quyết gì? Căn ứ vào khoản 1 Điều 308 ủa Bộ luật Tố tụng dân sự.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2026/LĐ-PT
Ngày 08-9-2026
V/v “Tranh hấp đơn phương hấm
dứt hợp đồng lao động”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn;

Các Thẩm phán: 1. Ông Phan Thanh Tùng;

2. Ông Nguyễn Phước Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/TLPT-LĐ ngày 04 tháng 8 năm 2026, về “Tranh chấp đơn phương hấm dứt hợp đồng lao động”.

Do Bản án sơ thẩm số 19/2026/LĐ-ST ngày 15 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Tây Ninh, có kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phú thẩm số 07/2026/QĐ-PT ngày 18 tháng 8 năm 2026, giữa á đương sự:

Nguyên đơn: Bà Mai Thị Lệ H, sinh năm 1991; CCCD số xxxxxxxxxxxx; ấp ngày 02-12-2022; Địa hỉ: Ấp T, xã C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Trần T, sinh năm 1989; CCCD số xxxxxxxxxxxx, ấp ngày 09-9-2022; Địa hỉ: A, Chung ư S, KDC A, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 14-3-2026); ó đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Công ty trá h nhiệm hữu hạn một thành viên S; Địa hỉ: C5b, khu X, Lô B, KCN T, xã C, tỉnh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Junichi U, Tổng Giám đố .

Người đại diện theo ủy quyền: Công ty Luật trá h nhiệm hữu hạn P và các ộng sự (P1); Địa hỉ: Căn A - A, Paris H, số C, đường số A, Phường A, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 28-01-2026).

Người đại diện theo ủy quyền của P1: Bà Huỳnh Ngọ Uyên C, sinh năm 2001; CCCD số xxxxxxxxxxxx, ấp ngày 11-6-2022; Địa hỉ: Công ty L trách nhiệm hữu hạn P và cá ộng sự (P1) - Căn A5.01F – A6.01F, Paris H, số C, đường số A, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 28-01-2026); ó mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Thu N; là Luật sư ủa Công ty Luật trá h nhiệm hữu hạn P và á ộng sự, thuộ Đoàn Luật sư Thành phố H; Địa hỉ: Căn A - A, Paris H, số C, đường số A, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh; ó mặt

Người kháng cáo: Bà Mai Thị Lệ H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Mai Thị Lệ H trình bày:

Ngày 17-5-2025, bà và Công ty trá h nhiệm hữu hạn một thành viên S (sau đây viết là Công ty S) ký hợp đồng lao động số IBSVF049/HDLD, thời hạn 17 tháng, thời điểm làm việ là ngày 17-5-2025, ông việ là nhân viên kỹ thuật, lương ơ bản là 5.074.000 đồng/tháng.

Ngày 24-9-2025, Công ty S thỏa thuận hấm dứt hợp đồng lao động với bà vì Công ty ó nhu ầu giải thể, bà không đồng ý. Sau đó, Công ty S không thỏa thuận nữa mà ra thông báo tổ hứ đối thoại với nội dung là Công ty S tổ hứ lại ơ ấu và phương án sử dụng lao động, ho thôi việ đối với người lao động dôi dư, trong đó ó bà. Ngày 02-12-2025, Công ty S tổ hứ đối thoại về nội dung trên, buổi đối thoại ó sự tham gia ủa Tổng Giám đố , toàn bộ người lao động ủa Công ty và đại diện ủa Công đoàn Khu kinh tế tỉnh Tây Ninh. Kết quả đối thoại không thành, Công ty S vẫn giữ nguyên phương án sử dụng lao động và ho thôi việ đối với bà.

Ngày 23-12-2025, Công ty S ban hành Quyết định số 2312-2025/QĐ-IBSVN-07, về việ hấm dứt hợp đồng lao động với bà, kể từ ngày 04-01-2026. Ngày 09-01-2026, Công ty S đã thanh toán ho bà số tiền 13.074.000 đồng bao gồm: tiền lương ủa tháng 12/2025; tiền lương ủa 02 ngày làm việ trong tháng 01/2026 (ngày 01-01-2026 và ngày 02-01-2026); tiền lương tương đương với 6.5 ngày nghỉ hằng năm hưa nghỉ; tiền thưởng tháng lương thứ 13. Hiện tại, Công ty S đã hốt và trả sổ bảo hiểm xã hội ho bà.

Bà ho rằng hợp đồng lao động ủa bà hưa hết hạn nhưng Công ty lại hấm dứt hợp đồng lao động với bà là sai. Nay bà không òn nhu ầu làm việ tại Công ty.

Tại đơn khởi kiện, bà H khởi kiện yêu ầu Tòa án giải quyết:

Hủy bỏ Quyết định hấm dứt hợp đồng lao động số 2312-2025/QĐ-IBSVN-07 ủa Công ty S đối với bà H.

Buộ Công ty S bồi thường do đơn phương hấm dứt hợp đồng là 02 tháng lương, thành tiền là 14.680.000 đồng

Sau đó, bà H khởi kiện bổ sung: Buộ Công ty S thu hồi Quyết định hấm dứt hợp đồng lao động với bà; Thanh toán tiền lương, trợ ấp, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp ho những ngày không đượ làm việ , tính từ ngày 04-01-2026 ho đến ngày Tòa án xét xử.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty S trình bày: Bà H và Công ty S ó ký hợp đồng lao động như bà H trình bày là đúng. Do không đạt hiệu quả mong muốn nên kể từ uối tháng 10/2025, Công ty S không òn đơn hàng để sản xuất, dẫn đến không òn ông việ ho người lao động thuộ bộ phận sản xuất. Sau khi tham vấn ý kiến huyên môn ủa Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh T, Công ty S tiến hành thay đổi ơ ấu tổ hứ , giải thể bộ phận sản xuất, huẩn bị ho việ hấm dứt hoạt động.

Ngày 19-11-2025, Chủ sở hữu ủa Công ty S là Công ty S ban hành Quyết định ủa hủ sở hữu về việ thay đổi ơ ấu tổ hứ , tổ hứ lại lao động. Theo Quyết định ủa hủ sở hữu, Tổng Giám đố đã ra Quyết định về việ thay đổi ơ ấu tổ hứ , tổ hứ lại lao động đối với Công ty S. Công ty S đã gửi bản dự thảo ủa phương án sử dụng lao động đến Công đoàn ấp trên ơ sở là Công đoàn Khu kinh tế tỉnh Tây Ninh và toàn bộ 09 người lao động ủa Công ty S, đồng thời mời tham gia buổi đối thoại tại nơi làm việ vào ngày 21-11-2025, nhằm trao đổi ý kiến về phương án sử dụng lao động và ho thôi việ người lao động vì lý do Công ty S thay đổi ơ ấu tổ hứ , tổ hứ lại lao động.

Ngày 20-11-2025, bà H và những người lao động khá đề nghị Công ty dời thời gian đối thoại nên buổi đối thoại dời sang ngày 02-12-2025.

Tại buổi đối thoại, với sự tham gia ủa Tổng Giám đố , toàn bộ người lao động ủa Công ty S và đại diện ủa Công đoàn Khu kinh tế tỉnh Tây Ninh, Công ty S đã trao đổi, thảo luận, hia sẻ thông tin liên quan đến dự thảo phương án sử dụng lao động và việ Công ty S thay đổi ơ ấu tổ hứ , tổ hứ lại lao động dẫn đến hấm dứt hợp đồng lao động với những người lao động dôi dư.

Kết thú buổi đối thoại tại nơi làm việ , Công ty S ban hành Phương án sử dụng lao động số 01-2025/PASDLĐ-IBSVN ngày 02-12-2025. Nội dung ủa buổi đối thoại và phương án sử dụng lao động ngày 02-12-2025 đã đượ Công ty S ông bố ông khai tại nơi làm việ từ ngày 03-12-2025 và giao bản văn ho người lao động, trong đó ó bà H.

Ngày 03-12-2025, Công ty S đã gửi Thông báo về việ ho thôi việ số 0112-2025/TB-IBSVN và Phương án sử dụng lao động ho Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh T. Theo nội dung phản hồi tại văn bản số 2574/BQLKK-DNLĐ ngày 22-12-2025, Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh T tiếp nhận hồ sơ, không phản đối, không yêu ầu giải thí h thêm vấn đề nào đối với việ Công ty S về việ hấm dứt hợp đồng lao động với người lao động do thay đổi ơ ấu tổ hứ , tổ hứ lại lao động, mà hỉ lưu ý Công ty Đ thự hiện quy trình ho thôi việ người lao động và á hế độ ho người lao động theo quy định pháp luật.

Ngoài ra, Công ty S ũng đã tạo điều kiện, giới thiệu việ làm ho người lao động nhưng người lao động không đồng ý, hỉ ó 02 trong tổng số 09 người lao động đồng ý phỏng vấn và đã ó việ làm.

Đồng thời, ngày 03-12-2025, Công ty S đã thông báo trướ ho bà H về việ sẽ hấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày 04-01-2026.

Ngày 09-01-2026, Công ty đã thanh toán ho bà H đầy đủ quyền lợi ủa bà H tính đến ngày 04-01-2026. Công ty đã đóng bảo hiểm xã hội ho bà H đến ngày 31-12-2025 và trả sổ bảo hiểm xã hội ho bà H vào ngày 02-02-2026.

Công ty S ũng đã thự hiện á thủ tụ tại ơ quan nhà nướ ó thẩm quyền để hấm dứt hoạt động theo quy định. Vào ngày 26-01-2026, Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh T ban hành văn bản số 312/TB-BQLKKT thông báo hấm dứt hoạt động dự án “Nhà Máy S1” và thu hồi Giấy hứng nhận đăng ký đầu tư ủa Công ty S.

Đối với yêu ầu khởi kiện ủa bà H, Công ty S không đồng ý và đề nghị Tòa án không hấp nhận toàn bộ yêu ầu khởi kiện ủa bà H, vì Công ty S hấm dứt hợp đồng lao động với bà H đúng quy định pháp luật và đã đảm bảo đầy đủ quyền lợi ho bà H khi hấm dứt hợp đồng lao động như luật định. Bà H làm việ tại Công ty S hưa đủ 12 tháng nên bà H không đủ điều kiện để nhận trợ ấp mất việ làm theo quy định.

Tại phiên toà:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Mai Thị Lệ H là ông Vũ Trần Tiến trình B: Về lời trình bày ủa bà H trong quá trình giải quyết vụ án ho rằng Quyết định hấm dứt hợp đồng lao động ủa Công ty đối với bà H sai, vì hưa hết thời hạn mà Công ty đã hấm dứt hợp đồng lao động thì ông sửa hữa lại như sau: Công ty S sản xuất gia ông hàng hóa hỉ bán ho một khá h hàng duy nhất là Công ty S. Từ tháng 10/2025, Công ty S không òn đơn hàng nào để sản xuất là đúng. Từ trướ đến nay Công ty S hoạt động ó lợi nhuận, không bị thua lỗ nên việ tái ơ ấu là không phù hợp. Bên ạnh đó, việ Công ty S tiến hành tổ hứ đối thoại ùng một lú về ả 02 nội dung gồm phương án sử dụng lao động và ho thôi việ đối với người lao động là không đúng quy định ủa pháp luật. Lẽ ra, Công ty S phải tổ hứ đối thoại riêng về từng nội dung. Hơn nữa, trướ khi tiến hành đối thoại thì Công ty S phải lấy ý kiến ủa người lao động và tổ hứ đại diện ho người lao động tại ơ sở. Hình thứ và nội dung ủa buổi đối thoại đều không đúng quy định tại Điều 40 ủa Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Sau khi đối thoại xong thì ùng ngày 02-12-2025 Công ty S đã giao Biên bản đối thoại ho bà H. Ngày 03-12-2025, Công ty S ông bố ông khai phương án sử dụng lao động. Mặ dù kết quả đối thoại không thành nhưng ngày 03-12-2025 Công ty S vẫn ra Thông báo hấm dứt hợp đồng lao động với bà H nên đây ũng đượ xem là hành vi đơn phương hấm dứt hợp đồng lao động. Ngoài ra, quyết định thay đổi ơ ấu tổ hứ ủa hủ sở hữu Công ty S đã ban hành từ ngày 19-11-2025 nhưng đến ngày 05-02-2026 bà H mới đượ nhận là không phù hợp. Từ ăn ứ trên ho thấy, việ Công ty S hấm dứt hợp đồng lao động với bà H là đơn phương và trái pháp luật.

Nay, bà H khởi kiện yêu ầu Tòa án giải quyết, buộ Công ty S phải thự hiện những nghĩa vụ sau đây với bà H:

Hủy bỏ, thu hồi Quyết định hấm dứt hợp đồng lao động số 2312-2025/QĐ-IBSVN-07 ngày 23-12-2025.

Bồi thường do đơn phương hấm dứt hợp đồng lao động là 02 tháng lương, tương đương số tiền là 14.680.000 đồng.

Thanh toán tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 21,5% trên tổng lương ho những ngày không đượ làm việ , tính từ ngày 04-01-2026 ho đến ngày 08-6-2026. Cụ thể: tiền lương là 36.700.795 đồng, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 7.890.671 đồng (Tính theo mứ lương thự lãnh là 7.340.159 đồng).

Ông xá định bà H không yêu ầu Công ty S trả trợ ấp và phú lợi khác trong những ngày không đượ làm việ theo đơn khởi kiện bổ sung. Hiện tại, bà H ó việ làm mới hay hưa thì ông không rõ. Còn á quyền lợi về tiền lương, thưởng, trợ ấp mà bà H đượ hưởng tính đến ngày 04-01-2026 thì Công ty S đã thự hiện đầy đủ, bà H không tranh hấp về á quyền lợi này.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty S là bà Huỳnh Ngọc Uyên C trình bày: Đối với yêu ầu khởi kiện mà ủa bà H, bà đại diện Công ty S không đồng ý. Pháp luật lao động không ó quy định trướ khi tiến hành đối thoại phải tham khảo ý kiến ủa người lao động nhưng Công ty S ũng đã gửi bản thảo phương án sử dụng lao động ho người lao động biết trướ khi tiến hành đối thoại, mụ đí h là để người lao động hiểu và trao đổi ý kiến tại buổi đối thoại. Tóm lại, về việ xây dựng phương án sử dụng lao động và ho thôi việ đối với lao động dôi dư trong đó ó bà H thì Công ty S đã thự hiện đúng quy định ủa pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử không hấp nhận toàn bộ yêu ầu khởi kiện ủa bà H.

Luật sư Nguyễn Thu N trình bày: Việ thay đổi ơ ấu tổ hứ , tổ hứ lại lao động là quyết định ủa hủ sở hữu Công ty và là quyền tự quyết định ủa doanh nghiệp, không buộ phải hứng minh ho người lao động biết về nguyên nhân tái ơ ấu và không phải Công ty hoạt động ó lợi nhuận thì không đượ tái ơ ấu. Thay vào đó, tùy thuộ vào quyết định ủa hủ sở hữu thì Công ty ó quyền ơ ấu tổ hứ lại lao động và đáp ứng điều kiện ủa pháp luật và bảo đảm đầy đủ quyền lợi ho người lao động. Công ty S không ó tổ hứ Công đoàn ơ sở và ũng không ó quy định nào buộ phải trao đổi trướ với tổ hứ Công đoàn ơ sở trướ khi xây dựng phương án sử dụng lao động, thự hiện tái ơ ấu Công ty. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền lợi ho người lao động thì Công ty S đã mời Công đoàn Khu ông nghiệp T tham gia đối thoại để hứng kiến, đóng góp ý kiến và bảo vệ quyền lợi ho người lao động. Người lao động không ó quyền quyết định về việ tái ơ ấu tổ hứ lao động và phương án sử dụng lao động vì đây là quyền quản trị ủa hủ sở hữu Công ty. Người lao động hỉ ó quyền ó ý kiến về á quyền lợi theo hợp đồng lao động ủa mình. Hiện tại, Công ty S đã hấm dứt hoạt động đúng theo quy định ủa pháp luật, Cơ quan nhà nướ ó thẩm quyền đã thu hồi giấy phép hoạt động ủa Công ty và Công ty đã thông báo về việ hấm dứt hoạt động trên Cổng thông tin điện tử Quố gia. Do đó, quy trình hấm dứt hợp đồng lao động ủa Công ty S đối với bà H là đúng pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử không hấp nhận toàn bộ yêu ầu khởi kiện ủa bà H.

Bản án sơ thẩm dân sự số 19/2026/LĐ-ST ngày 15-6-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7, tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:

Căn ứ vào điểm a Khoản 1 Điều 32, Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147 ủa Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Khoản 11 Điều 34, Điều 39, Điều 41, Điều 42, Điều 44, Điều 45, Điều 47, Điều 48, Điều 63, Điều 64 ủa Bộ luật Lao động năm 2019; Khoản 2 Điều 7, Khoản 1 Điều 74, Khoản 1 Điều 76 Luật Doanh nghiệp năm 2020, Điều 3, Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27-6-2025 ủa Ủy ban Thường vụ Quố hội về thành lập Tòa án nhân dân ấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vự ; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ ủa Tòa án nhân dân ấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vự ; Điều 38, 41, Khoản 4 Điều 114 ủa Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14-12-2020 ủa Chính phủ quy định hi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều ủa Bộ luật Lao động về điều kiện lao động; điểm a Khoản 1 Điều 12, Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quố hội quy định về mứ thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Không hấp nhận toàn bộ yêu ầu khởi kiện ủa nguyên đơn bà Mai Thị Lệ H đối với bị đơn Công ty trá h nhiệm hữu hạn một thành viên S, về việ tranh hấp đơn phương hấm dứt hợp đồng lao động, bao gồm:

Hủy bỏ, thu hồi Quyết định hấm dứt hợp đồng lao động số 2312-2025/QĐ-IBSVN-07 ngày 23-12-2025.

Bồi thường do đơn phương hấm dứt hợp đồng lao động là 02 tháng lương, tương đương số tiền là 14.680.000 đồng.

Thanh toán tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 21,5% trên tổng lương ho những ngày không đượ làm việ , tính từ ngày 04-01-2026 ho đến ngày 08-6-2026. Cụ thể: tiền lương là 36.700.795 đồng, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 7.890.671 đồng (Tính theo mứ lương thự lãnh là 7.340.159 đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm òn tuyên về hi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 02-7-2026, ông Vũ Trần T là người đại diện theo uỷ quyền ủa bà Mai Thị Lệ H ó đơn kháng áo, yêu ầu huỷ bản án sơ thẩm, giao về ấp sơ thẩm giải quyết lại, vì ấp sơ thẩm vi phạm trong đánh giá hứng làm ảnh hưởng đến quyền lợi ủa bà H.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

+ Về thủ tụ tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thự hiện đúng trình tự, thủ tụ theo quy định ủa Bộ luật Tố tụng dân sự; á đương sự hấp hành đúng theo quy định ủa Bộ luật Tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không hấp nhận kháng áo ủa bà Mai Thị Lệ H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy:

Về thủ tụ tố tụng: Xét kháng áo ủa bà Mai Thị Lệ H; phù hợp với quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 ủa Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét kháng áo ủa bà Mai Thị Lệ H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Theo bà Mai Thị Lệ H ho rằng, ngày 17-5-2025, bà ký hợp đồng lao động số IBSVF049/HDLD với Công ty trá h nhiệm hữu hạn một thành viên S với thời hạn 17 tháng. Đến ngày 24-9-2025, Công ty S thỏa thuận hấm dứt hợp đồng lao động với bà vì Công ty ó nhu ầu giải thể, bà không đồng ý. Ngày 23-12-2025, Công ty S ban hành Quyết định số 2312-2025/QĐ-IBSVN-07 hấm dứt hợp đồng lao động với bà, kể từ ngày 04-01-2026 và thanh toán ho bà số tiền 13.074.000 đồng bao gồm: tiền lương ủa tháng 12/2025; tiền lương ủa 02 ngày làm việ trong tháng 01/2026 (ngày 01-01-2026 và ngày 02-01-2026); tiền lương tương đương với 6.5 ngày nghỉ hằng năm hưa nghỉ; tiền thưởng tháng lương thứ 13. Hiện tại, Công ty S đã hốt và trả sổ bảo hiểm xã hội ho bà. Bà H ho rằng hợp đồng lao động ủa bà hưa hết hạn nhưng Công ty lại hấm dứt hợp đồng lao động với bà là sai nên khởi kiện yêu ầu hủy bỏ, thu hồi Quyết định hấm dứt hợp đồng lao động số 2312-2025/QĐ-IBSVN-07 ngày 23/12/2025; Bồi thường do đơn phương hấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là 02 tháng lương, tương đương số tiền là 14.680.000 đồng; Thanh toán tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 21,5% trên tổng lương ho những ngày không đượ làm việ , tính từ ngày 04/01/2026 cho đến ngày 08/6/2026 gồm tiền lương là 36.700.795 đồng, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 7.890.671 đồng (tính theo mứ lương thự lãnh là 7.340.159 đồng).

Theo bị đơn Công ty trá h nhiệm hữu hạn một thành viên S trình bày việ Công ty thay đổi tái ơ ấu tổ hứ , tổ hứ lại lao động theo hướng thu hẹp quy mô sản xuất, tiến đến hấm dứt hoạt động và Công ty đã thự hiện đầy đủ thủ tụ theo quy định ủa pháp luật; bảo đảm đầy đủ quyền lợi ho người lao động nên ngày 23-12-2025 Công ty đã ban hành Quyết định số 2312-2025/QĐ-IBSVN-07 hấm dứt hợp đồng lao động số IBSVF049/HDLD ngày 17-5-2025 đối với bà Mai Thị Lệ H kể từ ngày 04-01-2026.

Hội đồng xét xử nhận thấy, ngày 26-01-2026, Công ty S đã ra Thông báo hấm dứt hoạt động dự án đầu tư ủa Công ty S. Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh T đã ban hành Thông báo 312/TB-BQLKKT, thông báo hấm dứt hoạt động dự án đầu tư ủa Công ty S, với tên dự án: Nhà máy sản xuất VAN, hoạt động theo Giấy hứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty trá h nhiệm hữu hạn một thành viên có mã doanh nghiệp số 1101820219 do Sở Kế hoạ h và đầu tư tỉnh L (nay là Sở Tài hính tỉnh T) ấp, đăng ký lần đầu ngày 05/5/2016, đăng ký thay đổi lần thứ 05 vào ngày 30/9/2024, hiệu lự từ ngày 23/01/2016. Nhận thấy, việ Công ty S thu hẹp sản xuất kinh doanh, tiến đến hấm dứt hoạt động, dẫn đến phải thay đổi ơ ấu tổ hứ , tổ hứ lại lao động là thật; do đó, ngày 23-12-2025 Công ty đã ban hành Quyết định số 2312-2025/QĐ-IBSVN-07 hấm dứt hợp đồng lao động số IBSVF049/HDLD ngày 17-5-2025 đối với bà Mai Thị Lệ H kể từ ngày 04-01-2026 là đúng với quy định tại khoản 11 Điều 34; Điều 42 ủa Bộ luật Lao động; khoản 2 Điều 7; điểm m khoản 1 Điều 76 Luật Doanh nghiệp; nên việ Công ty S hấm dứt hợp đồng lao động với bà H trong trường hợp này không thuộ trường hợp đơn phương hấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 39 ủa Bộ luật Lao động năm 2019. Việ Công ty S thự hiện việ thay đổi ơ ấu tổ hứ , tổ hứ lại lao động và đã thự hiện đúng trình tự, thủ tụ theo quy định, ụ thể:

Về thủ tục tổ chức đối thoại: Ngày 02-12-2025, Công ty S tổ hứ đối thoại với người lao động theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 63; khoản 1 Điều 64 ủa Bộ luật Lao động; Điều 41 ủa Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14-12-2020 ủa Chính phủ.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bà H và ông T thừa nhận Công ty S đã gửi văn bản kèm theo nội dung ần tham khảo về nội dung đối thoại là phương án sử dụng lao động và ho thôi việ đối với người lao động dôi dư, ó danh sá h người lao động ho thôi việ kèm theo, trong đó ó bà H. Do đó, Công ty S đã tuân thủ đúng trá h nhiệm gửi văn bản kèm theo nội dung ần tham khảo, trao đổi ý kiến đến á thành viên đại diện tham gia đối thoại ủa bên người lao động theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 41 ủa Nghị định 145/2020/NĐ-CP.

Buổi đối thoại ó sự tham gia ủa đại diện Công ty S và người lao động. Về phía Công ty S ó sự tham gia ủa 04 người, trong đó ó người đại diện theo pháp luật ủa Công ty là ông Junichi U – Tổng giám đố . Về phía người lao động, ó sự tham gia ủa 09/09 người lao động. Do Công ty S không có Công đoàn ơ sở nên Công ty đã mời đại diện ủa Công đoàn Khu ông nghiệp tỉnh Tây Ninh tham gia đối thoại. Như vậy, thành phần tham dự đối thoại đã bảo đảm đúng quy định tại Điều 38, Điều 41 ủa Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14-12-2020 ủa Chính phủ; điểm khoản 2 Điều 63 Bộ luật Lao động.

Về phương án sử dụng lao động: Sau khi tổ hứ đối thoại tại nơi làm việ , ngày 02-12-2025, Công ty S đã ban hành Phương án sử dụng lao động số 01 – 2025/PASDLD-IBSVN. Nội dung ủa phương án sử dụng lao động thể hiện thông tin về số lượng, họ tên người lao động phải hấm dứt hợp đồng sau khi Công ty tổ hứ lại lao động; quyền, nghĩa vụ ủa Công ty S và người lao động; biện pháp và nguồn tài hính bảo đảm thự hiện phương án. Theo phương án sử dụng lao động trên thì bà H ũng là một trong số người lao động phải hấm dứt hợp đồng lao động. Việ xây dựng và thự hiện phương án sử dụng lao động đượ thự hiện đúng quy định tại khoản 3 Điều 42, Điều 44 ủa Bộ luật Lao động. Phương án sử dụng lao động này đượ gửi đến Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh T và ông bố tại Công ty S vào ngày 03-12-2025, trướ khi hính thứ thự hiện là ngày 04-01-2026. Theo quy định tại Điều 7 Thông tư 17/2023/TT-BLĐTBXH ủa Bộ L1, Ủy ban nhân dân ấp tỉnh quyết định việ ủy quyền ho Ban Q thự hiện ông việ tiếp nhận thông báo về việ ho thôi việ đối với người lao động ủa á doanh nghiệp trong khu ông nghiệp theo quy định tại khoản 6 Điều 42 Bộ luật Lao động.

Do đó, đủ ơ sở xá định nội dung và hình thứ ủa phương án sử dụng lao động là phù hợp với quy định tại Điều 42, Điều 44 Bộ luật Lao động.

Về Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động và Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động: Ngày 03-12-2025, Công ty S gửi Thông báo về việ hấm dứt hợp đồng lao động với bà Mai Thị Lệ H là thự hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 45 ủa Bộ luật Lao động.

Do đó, Công ty đã bảo đảm đủ thời gian thông báo ho Ủy ban nhân dân tỉnh T và bà H là 30 ngày trướ khi hấm dứt hợp đồng lao động, theo quy định tại Khoản 6 Điều 42 Bộ luật Lao động.

Ngày 23-12-2025, Công ty S ban hành Quyết định hấm dứt hợp đồng lao động số 2312-2025/QĐ-IBSVN-07 đối với bà H, vì lý do thay đổi ơ ấu tổ hứ , tổ hứ lại lao động, kể từ ngày 04-01-2026 là bảo đảm đúng thời gian thông báo trướ ho bà H và ơ quan quản lý Nhà nướ về lao động về việ hấm dứt hợp đồng lao động.

Việ Công ty S hấm dứt hợp đồng lao động với bà H là đúng quy định tại khoản 11 Điều 34, Điều 42 ủa Bộ luật Lao động; không phải là đơn phương hấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 39 ủa Bộ luật Lao động. Do đó, ấp sơ thẩm không hấp nhận toàn bộ yêu ầu khởi kiện ủa bà Mai Thị Lệ H là ó ăn ứ, phù hợp với quy định pháp luật.

Từ những phân tí h trên, không hấp nhận kháng áo ủa bà Mai Thị Lệ H; không hấp nhận lời trình bày ủa ông Vũ Trần T là người đại diện theo uỷ quyền ủa bà H; hấp nhận lời đề nghị ủa Kiểm sát viên tại phiên tòa; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Về án phí phú thẩm: Căn ứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mứ thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bà Mai Thị Lệ H đượ miễn án phí.

Vì á lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn ứ vào khoản 1 Điều 308 ủa Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Không hấp nhận yêu ầu kháng áo ủa bà Mai Thị Lệ H;

3. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 19/2026/LĐ-ST ngày 15 tháng 6 năm 2026 ủa Tòa án nhân dân khu vự 7, tỉnh Tây Ninh.

4. Căn ứ vào điểm a Khoản 1 Điều 32; Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147 ủa Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Khoản 11 Điều 34, Điều 39, Điều 41, Điều 42, Điều 44, Điều 45, Điều 47, Điều 48, Điều 63, Điều 64 ủa Bộ luật Lao động năm 2019; Khoản 2 Điều 7; Khoản 1 Điều 74; Khoản 1 Điều 76 Luật Doanh nghiệp năm 2020; Điều 3, Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27-6-2025 ủa Ủy ban Thường vụ Quố hội về thành lập Tòa án nhân dân ấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vự ; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ ủa Tòa án nhân dân ấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vự ; Điều 38, Điều 41, Khoản 4 Điều 114 ủa Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14-12-2020 ủa Chính phủ quy định hi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều ủa Bộ luật Lao động về điều kiện lao động; điểm a Khoản 1 Điều 12, Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 ủa Ủy ban Thường vụ Quố hội quy định về mứ thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

4.1. Không hấp nhận toàn bộ yêu ầu khởi kiện ủa nguyên đơn bà Mai Thị Lệ H đối với bị đơn Công ty trá h nhiệm hữu hạn một thành viên S, về việ tranh hấp đơn phương hấm dứt hợp đồng lao động, về bà H yêu ầu:

Hủy bỏ, thu hồi Quyết định hấm dứt hợp đồng lao động số 2312-2025/QĐ-IBSVN-07 ngày 23-12-2025.

Bồi thường do đơn phương hấm dứt hợp đồng lao động là 02 tháng lương, tương đương số tiền là 14.680.000 đồng.

Thanh toán tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 21,5% trên tổng lương ho những ngày không đượ làm việ , tính từ ngày 04-01-2026 ho đến ngày 08-6-2026. Cụ thể: tiền lương là 36.700.795 đồng, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 7.890.671 đồng (Tính theo mứ lương thự lãnh là 7.340.159 đồng).

4.2. Về án phí sơ thẩm: Bà Mai Thị Lệ H đượ miễn tạm ứng án phí, án phí.

4.3. Về án phí phú thẩm: Bà Mai Thị Lệ H đượ miễn tạm ứng án phí, án phí phú thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

7. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị ưỡng chế thi hành án theo quy định tại á Điều 6, 7 và 36 của Luật Thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

Cỡ chữ