- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản - lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6- THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:14/2026/HS- ST Ngày 18- 3 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tống Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Khuê, bà Nguyễn Thị Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh, là Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) khu vực 6- Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) khu vực 6- Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở TAND khu vực 6 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2026, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2026/QĐXXST- HS ngày 03/3/2026 đối với bị cáo:
HỒ MẠNH TÙNG, sinh ngày 13/02/2001, tại Thanh Hoá; Cư trú tại: Thôn N, xã H, Thanh Hóa; CCCD số: 038201023759; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hồ Văn T; Con bà: Tạ Thị K; Vợ, con: chưa; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/11/2025 đến ngày 28/11/2025 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Bị hại:
1. Anh Phạm Văn C, sinh năm 1992; Cư trú tại: Tổ dân phố Đ, phường N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
2. Anh Lương Văn H, sinh năm 1990; Cư trú tại: Tổ dân phố X, phường N, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
Người làm chứng: Anh Tạ Hồng D, sinh năm 1987 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2021, Hồ Mạnh T1 được anh Tạ Hồng D (là cậu ruột của T1) thuê đi giao đá nguyên khối cho các cơ sở đá mỹ nghệ tại phường N, tỉnh Ninh Bình. Biết được các cơ sở đá mỹ nghệ có nhu cầu về đá xanh nguyên khối để làm lăng mộ nên T1 làm quen và kết bạn Facebook với các chủ cơ sở đá mỹ nghệ. Cuối tháng 8/2022, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên T1 nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng cách đăng ảnh các khối đá xanh lên trang Facebook và chiếm đoạt tiền đặt cọc. T1 đến mỏ đá H trên địa bàn xã T, tỉnh Thanh Hóa chụp ảnh các khối đá xanh rêu rồi đăng trên trang Facebook cá nhân tên là: Mạnh T1 (Tùng H) để rao bán. T1 đăng thông tin giá đá rẻ hơn thị trường để thu hút người đang có nhu cầu mua đá, khi có người hỏi mua đá, hai bên thỏa thuận giá cả thời gian giao hàng xong thì T1 yêu cầu người mua đá đặt cọc tiền (bằng hình thức chuyển khoản), sau khi nhận được tiền đặt cọc T1 không thực hiện giao đá cho khách như thỏa thuận. Đến hẹn không thấy T1 giao đá, khách đặt mua hàng liên lạc hỏi thì T1 viện ra nhiều lý do để trì hoãn, cắt liên lạc và bỏ trốn vào miền N. Cuối năm 2023 T1 mới về địa phương. Số tiền khách chuyển đặt cọc T1 chiếm đoạt và tiêu xài cá nhân hết. Qua đấu tranh xác định từ tháng 9 đến tháng 10 năm 2022 với thủ đoạn trên Hồ Mạnh T1 đã 02 lần thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 20/9/2022, Hồ Mạnh T1 nhận được tin nhắn của anh Phạm Văn C, tin nhắn qua ứng dụng Messenger của Facebook tên là “Minh C1” nhắn tin đến tài khoản Facebook “Mạnh Tùng (Tùng H)” để hỏi mua đá xanh nguyên khối. T1 đồng ý và thỏa thuận là trong vòng 15 ngày sẽ giao đá cho anh C1 và yêu cầu anh C1 chuyển khoản 10.000.000đ để đặt cọc cho T1 vào số tài khoản 3896968888 Ngân hàng MB, mang tên Hồ Mạnh T1. Khoảng 03 giờ sáng ngày 11/10/2022, T1 gọi điện thoại cho anh C1 nói đang chở đá ra cho anh C1 nhưng xe bị hỏng và yêu cầu anh C1 chuyển thêm 3.000.000đ nữa để sáng hôm sau xe ra giao đá. Anh C1 đồng ý và chuyển khoản thêm cho T1 số tiền 3.000.000đ nhưng đến hẹn T1 không giao đá, anh C1 liên lạc thì T1 cắt liên lạc, rồi bỏ trốn vào M. Số tiền 13.000.000đ (mười ba triệu đồng) chiếm đoạt của anh C1, T1 đã sử dụng, tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Ngày 05/10/2022, Hồ Mạnh T1 nhận được tin nhắn của anh Lương Văn H với tên F “Lương H” nhắn tin đến ứng dụng Messenger của Facebook “Mạnh Tùng (Tùng Hà T2)” để đặt mua 06 khối đá xanh nguyên khối về làm lăng mộ, T1 nhận lời và yêu cầu anh H chuyển khoản 10.000.000đ để đặt cọc đến số tài khoản 3896968888 ngân hàng MB mang tên Hồ Mạnh T1 và hẹn 20 ngày sẽ giao đá. Anh H đồng ý và chuyển số tiền 10.000.000đ cho T1. Đến khoảng 01 giờ ngày 11/10/2022 Hồ Mạnh T1 gọi điện cho anh H nói dối là đang đi giao đá cho anh H nhưng bị Công an bắt xe nên yêu cầu anh H chuyển thêm 6.500.000đ để nộp phạt mới tiếp tục chở đá ra cho anh H được. Anh H đồng ý rồi nhờ vợ là Dương Thị Thu T3 chuyển khoản cho T1 6.500.000đ do không thấy T1 giao đá, anh H liên lạc thì T1 viện ra nhiều lý do để trì hoãn, cắt liên lạc, rồi bỏ trốn. Toàn bộ số tiền 16.500.000đ (mười sáu, triệu năm trăm nghìn đồng) T1 đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
- Đối với anh Tạ Hồng D (cậu ruột của T1), anh D là người thuê T1 làm lơ xe cho anh D đi chở đá thô và lắp ghép các lăng mộ, anh D trả cho T1 300.000đ/ngày công, việc T1 sử dụng Facebook để lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh Lương Văn H và anh Phạm Văn C, anh D không biết. Do đó không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với anh Tạ Hồng D.
- Thu giữ và xử lý vật chứng: Đối với 01(một) điện thoại màu nâu nhãn hiệu Samsung loại Note9 gắn thẻ sim Vinaphone, trên thẻ sim có dãy số 898402000 và 11622562773; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu phía lưng điện thoại bị vỡ kính, điện thoại không gắn thẻ sim đã thu giữ của T1 sẽ được chuyển sang Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Thanh Hóa để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật:
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Hồ Mạnh T1 đã khắc phục hậu quả, trả lại cho anh Lương Văn H số tiền 16.500.000đ và anh Phạm Văn C số tiền 13.000.000đ. Anh H và anh C đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.
* Tại bản cáo trạng số:44/CT-VKSKV6 ngày 31 tháng 01 năm 2026 của VKSND khu vực 6- Thanh Hoá truy tố bị cáo Hồ Mạnh T1 về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa Đại diện VKS duy trì công tố giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS, tuyên phạt bị cáo Hồ Mạnh T1 từ 12- 15 tháng tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 174 BLHS đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Note9 và trả lại 01 điện thoại Iphone, điện thoại bị khóa Icloud cho bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Hồ Mạnh T1 đã khắc phục hậu quả, trả lại cho anh Lương Văn H số tiền 16.500.000đ và anh Phạm Văn C số tiền 13.000.000đ. Anh H và anh C đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị miễn xét.
* Án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Căn cứ vào chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét khách quan toàn diện chứng cứ, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên; VKSND khu vực 6- Thanh Hoá, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng của BLTTHS. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa vắng mặt bị hại. Bị cáo và đại diện VKS không đề nghị HĐXX hoãn phiên tòa. Hồ sơ vụ án thể hiện lời khai của bị hại trong quá trình điều tra đã đầy đủ, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ 292 BLTTHS, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng truy tố của VKS. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai và các tài liệu có trong hồ sơ, HĐXX có đủ cơ sở kết luận:
Trong tháng 9 và tháng 10 năm 2022, Hồ Mạnh T1 đã dùng thủ đoạn gian dối là đăng trên mạng xã hội Facebook của T1 với tên tài khoản: Mạnh T1 (Tùng H) để rao bán mặt hàng đá xanh nguyên khối (mặt hàng T1 không có) để lừa đảo chiếm đoạt tiền đặt cọc của anh Phạm Văn C số tiền 13.000.000đ; chiếm đoạt của anh Lương Văn H số tiền 16.500.000đ. Tổng số tiền Hồ Mạnh T1 đã chiếm đoạt của anh C và anh H là 29.500.000 đồng.
Xét tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người tuổi đời đang còn trẻ, có sức khỏe để tự lao động nuôi sống bản thân nhưng vì không tu chí làm ăn, lợi dụng lòng tin của bị hại đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản để tiêu xài cá nhân. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Nên, HĐXX nhận thấy cần xử lý nghiêm minh mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội có 01 tình tiết tăng nặng TNHS đó làm phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo để bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổi sung: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 174 BLHS đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Hồ Mạnh T1 đã khắc phục hậu quả, trả lại cho anh Lương Văn H số tiền 16.500.000đ và anh Phạm Văn C số tiền 13.000.000đ. Anh H và anh C đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên HĐXX miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Note9 màu nâu lắp thẻ sim có dãy 898402000 và 11622562773 máy đã qua sử dụng, trên máy điện thoại này có đăng nhập tài khoản Facebook Mạnh T4 (Tùng H). Kiểm tra dữ liệu tin nhắn phát hiện tài khoản “Lương H” có nhắn tin giao dịch mua bán đá xanh rêu với tài khoản của T4. Tại phiên toà T4 thừa nhận có dùng điện thoại Samsung Note9 để nhắn tin cho H. Vì vậy, cần tịch thu sung quỹ nhà nước điện thoại Samsung Note9 là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại Iphone, do điện thoại bị khóa Icloud nên không phát hiện được nội dung gì liên quan đến việc mua bán đá xanh. Tại phiên toà bị cáo khai điện thoại bị cáo mua trả góp không dùng vào việc phạm tội nên trả lại điện thoại Iphone cho bị cáo là phù hợp.
Án phí HSST: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 47, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự ;
- Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 21, Điều 23, khoản 1 mục I Danh mục án phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
2. Tuyên bố: Bị cáo Hồ Mạnh T1 phạm tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
3. Xử phạt: Hồ Mạnh T1 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 19/11/2025 đến ngày 28/11/2025.
4. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Note9
- Trả lại cho bị cáo Hồ Mạnh T1 01 điện thoại Iphone, điện thoại bị khóa Icloud.
(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 16/3/2026 giữa Cơ quan Công an và Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 6- Thanh Hoá).
5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Mạnh T1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại.
Bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/3/2026); Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Toà án niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 6; - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa; - Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá; - CQĐT công an tỉnh Thanh Hoá; - CQ Thi hành án hình sự; - THA Dân sự tỉnh Thanh Hoá; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TỐNG THỊ HÀ |