vanban.org

Bản án 14/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 6 - An Giang , tỉnh An Giang Tuyên án 27/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

4- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. 5- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 1… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyên Trung K - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 14/2026/HS-ST
Ngày: 27/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thanh Liêm;

Ông Đào Hoàng Khương.

-Thư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hải Đăng- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2026, ta ̣i Phòng xử án của Tòa án nhân dân khu vực 6 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Trung K, sinh ngày 08/02/1992 tại xã U, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: ấp K, xã U, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B và bà Đặng Thị Á; Tiền án: 01 (Ngày 25/12/2024, Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 29/5/2025, chưa xóa án tích; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 19/01/2011, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm 07 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành án xong ngày 19/09/2011, đã xóa án tích; Ngày 04/12/2014, bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản; Ngày 09/3/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 28/3/2018, đã xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/12/2025 và chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam U Minh T cơ sở 1; có mặt

Bị hại:

1/ Hình Văn P, sinh ngày 01/01/1974; vắng mặt

2/ Nguyễn Văn H, sinh ngày 01/01/1985; vắng mặt

Cùng cư trú: ấp K, xã U, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Nguyễn Trường D, sinh năm 2002; vắng mặt

2/ Diệp Ngọc S, sinh năm 1982; vắng mặt

Cùng cư trú: ấp K, xã U, tỉnh An Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/5/2025 Nguyễn Trung K chấp hành xong hình phạt tù về tội “Trộm cắp tài sản" nhưng chưa được xóa án tích.

Đến khoảng 06 giờ, ngày 30/10/2025 Nguyễn Trung K mang theo cây dao yếm, dùng vỏ composite của anh rễ K là anh Đinh Văn H1 (vỏ đậu sẵn trong mương nước nhà K), K bơi vỏ ra bờ khóm của ông Hình Văn P (phía sau nhà K) chặt trộm 20 trái khóm của ông P đem vô nhà, K đi qua nhà chị Thị Mỹ T1 (gần nhà K) mượn chiếc xe honda và cái bao màu trắng, K chỉ nói mượn xe đi công chuyện, sau đó K về nhà bỏ số khóm trên vào bao và chạy xe đến nhà anh Nguyễn Văn Đ (ở ấp K, xã U) thì gặp Nguyễn Trường D (con anh Đ), K nói đến bán khóm cho anh Đ, D hỏi K số khóm ở đâu K có, thì K trả lời là khóm được người ta cho, D mới đồng ý mua 20 trái khóm của K với số tiền là 180.000 đồng, D kêu mẹ của D là bà Diệp Ngọc S đưa tiền cho K, K đi về và tiêu xài hết số tiền trên.

Đến khoảng 02 giờ sáng, ngày 02/11/2025 K đi qua nhà của ông Nguyễn Văn H (nhà ông H cặp phần đất nhà K) quan sát không có ai, K đi vào nhà và ra phía bên hong nhà, đến chuồng gà của ông H, K phát hiện thấy có 05 con gà trong chuồng, K nhìn xung quanh thấy gần chuồng gà có cái bao đựng rác, K đổ rác trong bao ra và đến chuồng gà bắt 05 con gà bỏ vào bao (mỗi con gà có trọng lượng từ 01kg đến dưới 02kg) đem về nhà, khi đi chưa đến nhà do sợ có người phát hiện, nên K đã đem số gà đựng trong bao xuống bờ sông cặp nhà của K, dùng dao mang theo chặt số gà chết hết và ném bỏ xuống sông.

Vật chứng thu giữ:

- 20 (hai mươi) trái khóm, trọng lượng từ 1050 gam đến 1350 gam.

- 01 (một) chiếc bao màu trắng, loại bao đựng thức ăn heo, trên bao có ghi chữ HD1288T của Công ty TNHH H2.

- 01 (một) cây dao yếm có tổng chiều dài 54,8cm, phần lưỡi dao dài 27,4cm gồm có một bề sống và một bề lưỡi, nơi rộng nhất 6,4cm, nơi nhỏ nhất 2,6cm; phân cán dao dài 27,4cm gồm phần cán bằng kim loại dài 10,2cm và phần cán gỗ được gắn vào cán kim loại dài 17,2cm, đường kính 2,5cm; đã qua sử dụng.

- 01 USB, trong đó có 03 đoạn clip: đoạn clip thứ nhất có độ dài 01 phút 21 giây; đoạn clip thứ hai có độ dài 01 phút 07 giây và đoạn clip thứ ba có độ dài 21 giây.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 01/KL-HĐĐGTS ngày 25/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong hoạt động tố tụng xã U, tỉnh An Giang, kết luận tài sản bị xâm hại là 20 (hai mươi) trái khóm (loại I) trọng lượng từ 1050 gam/trái đến 1350 gam/trái, tổng 20 trái khóm có giá trị trên thị trường là 220.000 đồng (Hai trăm hai mươi nghìn đồng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 02/KL-HĐĐGTS ngày 26/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong hoạt động tố tụng xã U, tỉnh An Giang, kết luận tài sản bị xâm hại là 05 (năm) con gà (04 con gà trống, 01 con gà mái); trọng lượng theo mô tả từ 1,5kg đến 1,7kg/con, tổng 05 con gà có giá trị trên thị trường là 880.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSKV6 ngày 12 tháng 02 năm 2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung K về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm bkhoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K từ 09 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiê ̣m dân sự:

Bị hại Nguyễn Văn H bị thiệt hại 05 con gà với tổng giá trị 880.000 đồng, B1 hại H yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại trên , đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền trên.

Bị hại Hình Văn P đã nhận lại được tài sản là 20 trái khóm bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bà Diệp Ngọc S có dùng số tiền 180.000 đồng mua 20 trái khóm của bị cáo, khi biết khóm là do bị cáo trộm cắp bà S đã giao nộp lại cho Cơ quan điều tra, trả lại cho người bị hại. Bà S không yêu cầu bị cáo khắc phục lại số tiền trên, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A đã trả lại cho bị hại Hình Văn P: 20 (hai mươi) trái khóm, trọng lượng từ 1050 gam đến 1350 gam.

+ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh A đã trả lại cho bà Thị Mỹ T1: 01 (một) chiếc bao màu trắng, loại bao đựng thức ăn heo, trên bao có ghi chữ HD1288T của Công ty TNHH H2.

+ Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) cây dao yếm có tổng chiều dài 54,8cm, phần lưỡi dao dài 27,4cm gồm có một bề sống và một bề lưỡi, nơi rộng nhất 6,4cm, nơi nhỏ nhất 2,6cm; phần cán dao dài 27,4cm gồm phần cán bằng kim loại dài 10,2cm và phần cán gỗ được gắn vào cán kim loại dài 17,2cm, đường kính 2,5cm; đã qua sử dụng.

+ Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB, trong đó có 03 đoạn clip: đoạn clip thứ nhất có độ dài 01 phút 21 giây; đoạn clip thứ hai có độ dài 01 phút 07 giây và đoạn clip thứ ba có độ dài 21 giây.

- Bị hại Nguyễn Văn H, bị hại Hình Văn P vắng mặt tại phiên toà không có lời trình bày, tại các lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện, bị hại Nguyễn Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại giá trị 05 con gà là 880.000 đồng, yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật; bị hại Hình Văn P đã nhận lại được tài sản là 20 trái khóm bị trộm cắp, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm.

- Bi ̣ cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại Nguyễn Văn H.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. [2] Về thủ tục tố tụng: Đối với việc vắng của bị hại Hình Như P, Nguyễn Văn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tường D1, Diệp Ngọc S đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án. Xét thấy không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt Hình Như Phục, Nguyễn Văn H, Nguyễn Tường D1, Diệp Ngọc S.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Trung K thừa nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ trong vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Ngày 30/10/2025 Nguyễn Trung K thực hiện trộm cắp 20 trái khóm của bị hại Hình Văn P, trị giá 220.000 đồng và ngày 02/11/2025 trộm cắp của bị hại Nguyễn Văn H 05 con gà, trị giá 880.000 đồng, tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 1.100.000 đồng. Trước đó, bị cáo Nguyễn Trung K có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Khi thực hiện hành vi bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; lợi dụng sơ hở của bị hại, lén lút trộm cắp tài sản; bị cáo thực hiê ̣n hành vi vớ i lỗi cố ý trực tiếp nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tà i sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trâ ̣t tự tại đi ̣a phương, gây dư luâ ̣n không tốt trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân không tốt, có tiền án chưa xoá án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, cho thấy bị cáo xem thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải. Do đó, cần tuyên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành thật khai báo nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xem xét có phần giảm nhe ̣ cho bi ̣ cáo.

Qua phân tích, xét thấy cần xử bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tập trung để cơ quan có thẩm quyền giáo dục cho bị cáo thành người tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với Nguyễn Tường D1 và Diệp Ngọc S có mua số khóm do bị cáo K trộm cắp mà có nhưng không biết nên không có cơ sở xem xét xử lý.

Về trá ch nhiê ̣m dân sự: Bị hại Nguyễn Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường bị thiệt hại 05 con gà với tổng giá trị 880.000 đồng, bị cáo thống nhất bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Bị hại ông Hình Văn P đã nhận lại được tài sản là 20 trái khóm bị trộm cắp và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bà Diệp Ngọc S có dùng số tiền 180.000 đồng mua 20 trái khóm của bị cáo, khi biết khóm là do bị cáo trộm cắp bà S đã giao nộp lại cho Cơ quan điều tra, trả lại cho người bị hại. Bà S không yêu cầu bị cáo khắc phục lại số tiền trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và các Điều 6, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Trung K phải chịu 200.000 đồng.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo NguyễnTrung K phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 09 (chín) tháng tù, tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 09/12/2025. 2- Về trá ch nhiê ̣m dân sự: Bị cáo Nguyễn Trung K bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn H 05 con gà với tổng giá trị 880.000 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015. 3- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao yếm có tổng chiều dài 54,8cm, phần lưỡi dao dài 27,4cm gồm có một bề sống và một bề lưỡi, nơi rộng nhất 6,4cm, nơi nhỏ nhất 2,6cm; phần cán dao dài 27,4cm gồm phần cán bằng kim loại dài 10,2cm và phần cán gỗ được gắn vào cán kim loại dài 17,2cm, đường kính 2,5cm; đã qua sử dụng. (Vật chứng trên hiện Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - An Giang đang quản lý theo biên bản giao nhận ngày 13/02/2026). + Lưu hồ sơ vụ án: 01 USB, trong đó có 03 đoạn clip: đoạn clip thứ nhất có độ dài 01 phút 21 giây; đoạn clip thứ hai có độ dài 01 phút 07 giây và đoạn clip thứ ba có độ dài 21 giây.

4- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ