vanban.org

Bản án 14/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Hồng T - Phạm tội: Tàng trữ hàng cấm.

Xử phạt: Nguyễn Hồng T 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Hồng T cho UBND xã Đ, tỉnh Quảng Ninh nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng T - tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Hồng T - Phạm tội: Tàng trữ hàng cấm.
  • Căn cứ chính? Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2026/ HS-ST
Ngày: 12 - 3 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - QUẢNG NINH

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Duy Hải.

- Thư ký phiên toà: bà Hoàng Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Đức Chính - Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 15/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 11/2026/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị cáo:

Nguyễn Hồng T, sinh ngày 26 tháng 11 năm 1983, tại xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn H, xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng L và bà Hoàng Thị L1; vợ: Lê Thị H, có 05 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tự thú bị tạm giữ từ ngày 20/01/2026 đến ngày 23/01/2026 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 30 phút ngày 20/01/2026, Phòng cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Q phối hợp với Công an xã Đ tiến hành kiểm tra nhân khẩu tại số nhà B ngõ A, thôn H, xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, do Nguyễn Hồng T làm chủ hộ, đồng thời thực hiện tuyên truyền để hộ gia đình T cam kết không sản xuất, mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng các mặt hàng cấm như pháo nổ, bóng cười.

Sau khi được tuyên truyền, Nguyễn Hồng T đã tự thú và tự nguyện giao nộp 08 hộp pháo hoa nổ, loại 36 lỗ/giàn, tổng khối lượng 12kg do Trung Quốc sản xuất mà T đang cất giữ trong nhà.

Tại bản Kết luận giám định số 486/KL-KTHS ngày 21/01/2026 của V Bộ C kết luận: các mẫu vật thu giữ tại nơi ở của Nguyễn Hồng T gửi giám định, cụ thể: 08 vật hình hộp, bọc bao bì ghi chữ nước ngoài, kích thước khoảng 16,5x13,5x14,5cm đều là pháo nổ (pháo hoa nổ) tổng khối lượng 12kg và đều mang nhãn hiệu do Trung Quốc sản xuất.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Hồng T khai nhận: toàn bộ số pháo nổ nêu trên là do T mua của một người đàn ông tên T1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) với giá 5.600.000đ từ đầu tháng 01/2026, mục đích mua về để sử dụng trong dịp tết Nguyên Đán 2026. Do biết việc tàng trữ pháo hoa nổ là vi phạm pháp luật nên T đã tự thú và tự nguyện giao nộp toàn bộ số pháo hoa trên cho Công an.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 30/QĐ-VKS ngày 06/02/2026 của VKSND khu vực 4 - Quảng Ninh đã truy tố Nguyễn Hồng T về tội: Tàng trữ hàng cấm – quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh vẫn giữ nguyên nội dung Quyết định đã truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, r, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 - Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Hồng T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Quyết định đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ được.

Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: hồi 17 giờ 30 phút ngày 20/01/2026 tại nơi ở của Nguyễn Hồng T thuộc thôn H, xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Hồng T có hành vi tàng trữ 12kg pháo nổ (pháo hoa nổ) với mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng T đã cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” - theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Xem xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng của bị cáo T thấy rằng bị cáo đã tự thú, thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm i, r, s khoản 1 Điều 51 – Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Quảng Ninh đối với bị cáo Nguyễn Hồng T là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

. Trong quá trình tố tụng từ giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã đảm bảo và tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.

. Xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Hồng T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước đối với loại hàng cấm là pháo nổ, mặc dù hiện nay pháp luật đã nghiêm cấm và có hình phạt rất nghiêm khắc đối với hành vi buôn bán, tàng trữ, sử dụng pháo nổ nhưng bị cáo đã bất chấp cả pháp luật tàng trữ pháo nổ để sử dụng nên cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung, làm gương cho người khác. Tuy nhiên thấy rằng khi nhận thức được pháp luật bị cáo đã thực sự ăn năn hối cải và tự thú hành vi phạm tội của mình, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, điều đó còn thể hiện sự khoan hồng của pháp luật tạo cho bị cáo một cơ hội để làm lại cuộc đời.

. Về vật chứng: đối với số pháo nổ đã sử dụng hết để giám định.

. Đối với người đàn ông đã bán cho T pháo nổ, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với chiếc điện thoại thu giữ của T, quá trình điều tra không có dữ liệu liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho T nên không xem xét.

. Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, r, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 - Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Nguyễn Hồng T - Phạm tội: Tàng trữ hàng cấm.

Xử phạt: Nguyễn Hồng T 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Hồng T cho UBND xã Đ, tỉnh Quảng Ninh nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm cùng với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn là: Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 583/LC-CSKT(Đ2) ngày 23/01/2026 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đối với bị cáo Nguyễn Hồng T.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí.

Buộc Nguyễn Hồng T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331; 333 – Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ