vanban.org

Bản án 14/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 13/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14-11-2025. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47; điểm c khoản 2 Đi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn T - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2026/HS-ST
Ngày 13-3-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Anh Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Đức

Ông Lương Kiều Vũ

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hương – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Trương Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 3 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2026/TLST- HS ngày 30-01-2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:

Hoàng Văn T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 12 tháng 12 năm 1990 tại xã M, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn P, xã M, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn H (đã chết) và con bà Lạc Thị C (đã chết); Vợ: Hoàng Thị H1, sinh năm 1993 và 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14-11-2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Anh Hoàng Văn V, sinh năm 1993. Trú tại: Thôn P, xã M, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Lộc Văn T1, sinh năm 1992. Vắng mặt.

2. Anh Lương Văn H2, sinh năm 1993. Vắng mặt.

Đều trú tại: Thôn P, xã M, tỉnh Lào Cai.

- Người giám định: Ông Mã Trung H3 và ông Nguyễn Khắc N - Giám định viên thuộc Trung tâm pháp y tỉnh L. Không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 07/10/2025, sau khi ăn cơm, uống rượu tại xã L, tỉnh Lào Cai xong thì Hoàng Văn T cùng Lộc Văn T1 và Lương Văn H2 rủ nhau đi uống bia tại quán bia thuộc thôn L, xã M, tỉnh Lào Cai. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi T đang ngồi uống bia thì Hoàng Văn V gọi điện cho T thì biết được T đang uống bia nên V đi đến quán bia nơi T đang uống.

Khoảng 05 phút sau, V đi xe mô tô đến quán bia. Do vào tháng 02 năm 2025, T có vay của V số tiền 10.000.000 đồng nên khi đến quán bia V bảo T về quán của V để nói chuyện. T đồng ý rồi lên xe mô tô của V để cùng đi về. Khi đi được khoảng 500m đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn P, xã M, tỉnh Lào Cai thì V dừng xe mô tô lại và đòi tiền T nên giữa V và T xảy ra xô xát, cãi nhau. Quá trình xô xát, V dùng tay khua khoắng về phía T rồi cả hai dùng chân, tay đánh nhau và vật nhau ngã xuống rãnh nước ven đường bên phải theo hướng thôn P, xã M đi thôn L, xã M. Sau đó, T đứng dậy và bỏ chạy sang phần đường bên trái nên V tiếp tục đuổi theo và lao vào đánh T khiến T bị ngã ra ven đường. Tiếp đó, V cúi người xuống, dùng tay để đánh T thì bị T dùng chân đạp trúng người Vững khiến V lùi lại. Thấy T và V đánh nhau nên anh T1 vào can ngăn, đẩy V ra. Sau đó, V tiếp tục đuổi theo để đánh T thì T tiếp tục chạy vào khu vực hàng rào cách vị trí T và V đánh nhau khoảng 01 đến 02 mét và nhặt được một viên đá màu vàng, kích thước 10,3cm x 6cm x 4cm. T cầm đá bằng tay phải đánh một phát theo chiều ngang từ phải qua trái, từ trước về sau trúng vào phần đầu bên trái của V khiến V bị thương. Sau đó, T và V được mọi người can ngăn nên T đi về nhà, V được vợ là chị Đinh Thị N1 đưa đến Trạm y tế xã V (nay là xã M) để sơ cứu. Khi về nhà, do bực tức vì bị T dùng đá đánh nên V đã mang theo 01 con dao bằng kim loại, dài 39cm, bản dao chỗ rộng nhất là 08cm, chuôi dao bằng gỗ đến nhà Hoàng Văn T với mục đích để đánh T nhưng đã được mọi người tại nhà T can ngăn. Đến tối cùng ngày, V được người nhà đưa đến Bệnh viện Đ tỉnh Lào Cai khám và điều trị đến ngày 16/10/2025 thì ra viện.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 134/KLTTCT-TTPY ngày 31/10/2025 của Trung tâm pháp y tỉnh L kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Hoàng Văn V tại thời điểm giám định là 39% (Ba mươi chín phần trăm).

Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, những người làm chứng đều khai nhận nội dung sự việc như đã nêu trên.

Bị hại anh Hoàng Văn V đã được bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền là 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng) và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản cáo trạng số 32/CT-VKS-KV2 ngày 29 tháng 01 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai truy tố Hoàng Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên không xem xét.

Về Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) viên đá màu vàng, kích thước 10,3cm x 06cm x 04cm, trên bề mặt có nhiều vết lồi lõm, không rõ hình dạng, bám dính nhiều đất màu vàng.

Tuyên án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị hại anh Hoàng Văn V không có ý kiến tranh luận gì, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Hoàng Văn T khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nhất trí với lời luận tội của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Lào Cai trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc thu thập các tài liệu, chứng cứ trong vụ án đã đầy đủ, đảm bảo hợp pháp, khách quan.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Văn T: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với lời khai của bị hại về hành vi dùng tay phải cầm đá đập trúng phần đầu bên trái của bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 07/10/2025 tại đoạn đường liên thôn thuộc thôn P, xã M, tỉnh Lào Cai, do có mâu thuẫn trong việc nợ tiền nên giữa Hoàng Văn T và Hoàng Văn V đã xảy ra xô xát, đánh nhau. Trong quá trình đánh nhau, Hoàng Văn T đã có hành vi dùng 01 viên đá kích thước 10,3cm x 06cm x 04cm (là hung khí nguy hiểm) đánh anh Hoàng Văn V khiến anh V bị thương tại vùng đầu bên trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 39% (Ba mươi chín phần trăm).

Hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Văn T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lào Cai truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an ninh tại địa phương.Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người lương thiện và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:

Bị cáo Hoàng Văn T bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Sau khi gây thương tích cho anh V, bị cáo bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị hại cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặt khác, việc bị cáo gây thương tích cho bị hại cũng có lỗi của bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự nên đủ điều kiện áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ sức răn đe đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Hoàng Văn V đã được bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 55.000.000 đồng và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng trong vụ án:

- Đối với 01 viên đá màu vàng, kích thước 10,3cm x 06cm x 04cm, xét không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 con dao bằng kim loại, dài 39cm, bản dao chỗ rộng nhất 08cm, chuôi dao bằng gỗ Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đã trả lại cho Hoàng Văn V quản lý, sử dụng là phù hợp.

Trong vụ án này, Hoàng Văn V đã có hành vi dùng chân, tay xô xát, đánh nhau với bị can Hoàng Văn T nhưng T chỉ bị thương nhẹ nên không phải đi điều trị và T cũng không có yêu cầu, đề nghị gì. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Văn V bằng hình thức phạt tiền là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 14-11-2025.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Xử lý vật chứng tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 02 năm 2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Lào Cai như sau:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) viên đá màu vàng, kích thước 10,3cm x 06cm x 04cm, trên bề mặt có nhiều vết lồi lõm, không rõ hình dạng, bám dính nhiều đất màu vàng.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ