- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trung K phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? 1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Trung K phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2026/HS -ST Ngày: 29-01-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 – PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Minh Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Ơn
2. Bà Trịnh Thị Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Ngọc Mai - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 15
- Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quang Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 29/01/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 1 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 1 năm 2026 đối với bị cáo:
Bùi Trung K, sinh ngày 09/09/2000 tại xã N, tỉnh Phú Thọ. Nơi cư trú: Xóm Ấ, xã N, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn L, sinh năm 1976 và bà Bùi Thị A, sinh năm 1980; bị cáo chưa có vợ con.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 07/11/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh P, được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Ông Bùi Văn V, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Xóm K, xã M, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Trung K là đối tượng nghiện chất ma tuý, hiện đang được điều trị cai nghiện tự nguyện bằng hình thức uống thuốc thay thế Methadone tại Trạm y tế xã N, tỉnh Phú Thọ và được lập hồ sơ bệnh án theo dõi tại Trung tâm y tế K1, tỉnh Phú Thọ (Hồ sơ bệnh án lập ngày 15/9/2020, mã số bệnh nhân HBI.11.246 theo quy định).
Sáng ngày 05/11/2025, K đi đến địa phận xã A, thành phố Hà Nội, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nên K xuống xe, mục đích đi tìm mua ma tuý. Khi đi bộ trên đường được một đoạn (vẫn thuộc địa phận xã A, thành phố Hà Nội), K gặp một người đàn ông không quen biết, không rõ đặc điểm cụ thể (chỉ nhớ người này mặc áo chống nắng, đeo khẩu trang bịt kín), qua trao đổi K hỏi mua và được người này đồng ý bán cho ma tuý là 01 (một) viên nén màu hồng với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Mua được ma tuý, K cất giấu vào trong người và bắt xe đi về nhà. Khi đi đến khu vực ngã tư chợ V1 thuộc địa phận xã N, tỉnh Phú Thọ, K xuống xe và đi bộ lên khu vực xã M rồi vào khu vực đất trống ven đường (không nhớ vị trí cụ thể), không có người qua lại để sử dụng trái phép chất ma tuý, tại đây K cho ma tuý vào bơm kim tiêm (xilanh), nghiền nát rồi cho nước cất vào (bơm kim tiêm và nước cất K đã chuẩn bị từ trước), lắc đều rồi tiêm chích trực tiếp vào cơ thể, sử dụng ma tuý xong K vứt bơm kim tiêm và vỏ chai nước cất tại chỗ rồi đi về nhà.
Đến khoảng 08 giờ 45 phút, ngày 06/11/2025, khi Bùi Trung K đang đi bộ tại khu vực xóm T, xã M, tỉnh Phú Thọ thì bị Tổ công tác Công an xã M, tỉnh Phú Thọ kiểm tra, tiến hành xét nghiệm ma tuý bằng que test nhanh nước tiểu, kết quả mẫu nước tiểu của Bùi Trung K dương tính với chất ma tuý MET (Methamphetamine). Cơ quan Công an đã tiến hành thu mẫu và niêm phong nước tiểu của Bùi Trung K để tiến hành trưng cầu giám định theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định số 3166/KL-KTHS ngày 07/11/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh P, kết luận: “Trong dung dịch màu vàng (nước tiểu) trong chai nhựa được dán giấy niêm phong ghi Mẫu nước tiểu của Bùi Trung K, sinh năm 2000, nơi thường trú: Xóm Ấ, xã N, tỉnh Phú Thọ thu giữ ngày 06/11/2025 gửi giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ”.
Quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Bùi Trung K, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P tiếp tục xác minh, làm rõ.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
+ 01 (một) mẫu nước tiểu được niêm phong trong chai nhựa và có dán giấy niêm phong có dấu, chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Cơ quan giám định đã sử dụng hết số mẫu trên.
Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 09/1/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ đã truy tố bị cáo Bùi Trung K về tội: "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Thực hành quyền công tố tại phiên toà, đại diện VKSND khu vực 15 – Phú Thọ, sau khi xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trình bày quan điểm và luận tội: Giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 256a của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Bùi Trung K phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".
Về hình phạt chính: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Bùi Trung K từ 24 tháng - 30 tháng tù.
Bị cáo Bùi Trung K đồng ý với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ truy tố, không có ý kiến bào chữa, tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy lời khai nhận của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản thu mẫu giám định; Biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định; Kết luận giám định số 3166/KL-KTHS ngày 07/11/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh P; Lời khai của người chứng kiến cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở khẳng định: Bùi Trung K là đối tượng nghiện chất ma tuý, hiện đang được điều trị nghiện các chất ma tuý bằng hình thức uống thuốc thay thế Methadone tại Trạm y tế xã N, tỉnh Phú Thọ và được lập hồ sơ bệnh án (mã số HBI.11.246) tại Trung tâm y tế K1, tỉnh Phú Thọ. Nhưng ngày 05/11/2025, Bùi Trung K đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại xã M, tỉnh Phú Thọ. Đến ngày 06/11/2025, Công an xã M, tỉnh Phú Thọ tiến hành test chất ma túy trong nước tiểu của Bùi Trung K, kết quả trong nước tiểu của Bùi Trung K dương tính với ma túy, kết quả giám định kết luận trong mẫu nước tiểu của Bùi Trung K tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine. Vì vậy, việc bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 15 – Phú Thọ truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Trung K phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất gây nghiện, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; là nguyên nhân làm phát sinh tội, tệ nạn xã hội khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tính chất, mức độ sai trái do hành vi gây ra. Song vì là đối tượng nghiện ma tuý, nên bị cáo đã cố ý sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine để thoả mãn cơn nghiện. Do vậy, bị cáo Bùi Trung K phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện.
Xét nguyên nhân, điều kiện phạm tội cho thấy: Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhằm thoả mãn cơn nghiện của bản thân nên đã sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine là nguyên nhân, điều kiện chính dẫn tới hành vi phạm tội của bị cáo.
Xét nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo là người dân tộc thiểu số (dân tộc Mường), sinh sống tại vùng có điều kiện kinh – xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo có ông ngoại là Bùi Văn S là người có công với cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Bùi Trung K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tình tiết cụ thể của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Do đó, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo cũng như đáp ứng mục đích đấu tranh phòng ngừa tội phạm trên địa bàn là cần thiết.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Bùi Trung K tài liệu điều tra thể hiện trong hồ sơ vụ án chưa đủ căn cứ xác định và tại phiên tòa bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan giám định đã sử dụng hết số mẫu giám định nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Trung K phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
1.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Trung K 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giam 07/11/2025.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Trung K phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;
| Nơi nhận : -TAND tỉnh Phú Thọ (b/c); -VKSND tỉnh Phú Thọ; -VKSND khu vực 15 - Phú Thọ; -Trại tạm giam cơ sở 3 - Công an tỉnh Phú Thọ; - PC10 – Công an tỉnh Phú Thọ; -Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Minh Giang |