- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án cố ý gây thương tích - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tổng hợp hình phạt cả hai tội buộc bị cáo Nguyễn Kim H phải chấp hành hình phạt chung là 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 304 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2026/HS-PT Ngày: 24 - 3 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Sơn Các Thẩm phán: Ông Trần Anh Tuấn và bà Đoàn Thị Kim Thương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Hoàng Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị mở phiên toà công khai xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 15/2026/HSPT ngày 03 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Kim H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 46/2025/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Quảng Trị.
- Bị cáo: Nguyễn Kim H, sinh ngày 25/3/1990, tại: Tỉnh Quảng Trị; số định danh: 045090007469; nơi cư trú: Khóm E, xã B, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Kim H1, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1968; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Đặng Thị T (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 05/7/2023, bị Công an huyện V (nay là Công an xã B), tỉnh Quảng Trị, xử phạt vi phạm hành chính 5.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” (đã chấp hành ngày 03/7/2024); nhân thân: Ngày 10/7/2007, bị Công an thị trấn B, huyện V (nay là Công an xã B), tỉnh Quảng Trị, xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” (đã chấp hành). Bị cáo không bị bắt tạm giam giữ ngày nào, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 07/10/2025 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng không kháng cáo nên Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được xác định như sau:
Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 26/3/2025, ông Nguyễn Hồng T1 và ông Dương Quốc L đến quán H4; địa chỉ số B B, phường N, tỉnh Quảng Trị để ăn khuya. Tại thời điểm này, trong quán có 01 bàn khác gồm: Nguyễn Kim H, chị Nguyễn Thị Tuyết D, chị Nguyễn Thị H3 và anh Hoàng Kim Minh P đang ngồi ăn. Khoảng 05 phút sau, ông T1 đi vệ sinh ở sau quán, cùng lúc này chị D cũng đi vệ sinh. Chị D vào nhà vệ sinh rồi đóng cửa lại, ông T1 đi vệ sinh ở bên ngoài, cách cửa phòng vệ sinh khoảng 01 mét. Khi chị D mở cửa phòng vệ sinh đi ra thì thấy ông T1 đang đi vệ sinh ở gần đó nên ra nói với những người ngồi cùng bàn “bên trong nhà vệ sinh có người đàn ông làm trò biến thái”. Thấy ông T1 đi ra, H và anh P liền gọi ông T1 lại nói chuyện thì xảy ra tranh cãi, ông T1 đã có những lời nói chửi bới, xúc phạm, miệt thị và có những hành động thách thức đối với H nên H lấy 01 con dao làm bếp (Dài 33cm, cán làm bằng gỗ hình trụ tròn dài 12,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại màu trắng dài 20.5cm) ở tủ bán hàng bên cạnh doạ chém ông T1. Thấy H cầm dao, ông T1 liền bỏ chạy, Hoàng rượt đuổi được khoảng 50 mét (đến trước số nhà D M) thì ông T1 dừng lại, rồi thách thức, chửi bới H, H liền dùng dao chém vào người ông T1, theo phản xạ, ông T1 đưa tay trái lên chống đỡ nên bị chém trúng vào tay, ông T1 ngã xuống đường, H chém tiếp vào lưng ông T1 01 nhát rồi bỏ đi, ông T1 được mọi người đưa trở lại quán H4 rồi gọi xe taxi đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Q để điều trị đến ngày 31/3/2025 thì ra viện. Do vết thương nhiễm trùng nên ông T1 vào điều trị tại Bệnh viện chấn thương chỉnh hình-phẫu thuật tạo hình Huế từ ngày 03/4 đến ngày 17/4/2025 thì ra viện. Vật chứng thu giữ: 01 con dao dài 33cm, cán làm bằng gỗ hình trụ tròn dài 12,5cm, lưỡi dao làm bằng kim loại màu trắng dài 20,5cm. Vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Quảng Trị.
Kết quả giám định:
- Tại Kết luận giám định số 64/KLTTCT-TTPY ngày 05/5/2025 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Q, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Hồng T1 tại thời điểm giám định là: 13%.
- Tại Kết luận giám định số 519/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là dao sắc, thuộc phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” ban hành kèm theo Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Kim H đã bồi thường đầy đủ theo yêu cầu của bị hại với số tiền 70.000.000 đồng, ông T1 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét. Tại Bản cáo trạng số 05/CT-VKSKV5 ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Quảng Trị đã truy tố bị cáo Nguyễn Kim H về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (dẫn chiếu điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự) và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Quảng Trị, xử:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (được dẫn chiếu tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Kim H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Kim H 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt tội “Cố ý gây thương tích” với hình phạt của tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” buộc bị cáo Nguyễn Kim H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội, là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong thời hạn luật định, ngày 05 tháng 01 năm 2026, bị cáo Nguyễn Kim H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Kim H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử.
- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần áp dụng pháp luật và hình phạt đối với tội “Cố ý gây thương tích” để giảm cho bị cáo từ 12 – 15 tháng tù; Giữ nguyên hình phạt về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, lời khai của bị cáo và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên chấp nhận để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Về hành vi, tội danh: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Kim H đã sử dụng dao đâm gây thương tích cho bị hại Nguyễn Hồng T1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể 13%. Theo Kết luận giám định số 519/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: con dao bị cáo sử dụng là dao sắc, thuộc Phụ lục 5 – danh mục dao có tính sát thương cao ban hành kèm theo Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ C.
Theo quy định của pháp luật, trường hợp người phạm tội sử dụng dao thuộc danh mục dao có tính sát thương cao để thực hiện hành vi phạm tội thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự, đồng thời phải chịu trách nhiệm về tội phạm tương ứng đối với hậu quả đã gây ra. Do đó, việc cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Kim H về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, đối với tội “Cố ý gây thương tích”, cấp sơ thẩm áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “dùng vũ khí” là chưa đúng. Bởi lẽ, theo hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, trong trường hợp này, không xác định hành vi sử dụng dao có tính sát thương cao là tình tiết “dùng vũ khí” để định khung hình phạt tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Xét bị hại có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng áp dụng khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim H, sửa bản án sơ thẩm theo hướng: giữ nguyên tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; sửa tội “Cố ý gây thương tích” từ điểm đ khoản 2 xuống khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự nhằm bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. [5] Xét kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng nhân thân bị cáo có 01 tiền sự đã bị xử phạt hành chính về hành vi cố ý gây thương tích và trước đây năm 2007 cũng đã bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ về nhân thân, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, đồng thời đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là: thành khẩn khai báo, đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và tuyên phạt mức án 12 tháng tù đối với tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” ngang mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.
Riêng đối với tội “Cố ý gây thương tích” do việc chuyển khung hình phạt từ khoản 2 xuống khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, cần sửa bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo về tội Cố ý gây thương tích. Việc sửa một phần bản án sơ thẩm không phải do lỗi của cấp sơ thẩm mà xuất phát từ việc cơ quan có thẩm quyền đã ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật mới liên quan đến việc xử lý đối với hành vi sử dụng dao thuộc danh mục dao có tính sát thương cao và trên nguyên tắc có lợi cho bị cáo nhằm bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất, đúng quy định và phù hợp với hướng dẫn hiện hành.
Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; xử: 1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Kim H; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2025/HS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Quảng Trị về phần hình phạt đối với tội “Cố ý gây thương tích”, giữ nguyên hình phạt về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”;
- Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Kim H 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Kim H 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự:
Tổng hợp hình phạt cả hai tội buộc bị cáo Nguyễn Kim H phải chấp hành hình phạt chung là 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Kim H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Trị; - TAND khu vực 5 - Quảng Trị; - CA xã Bến Quan, Quảng Trị; - UBND xã Bến Quan, Quảng Trị; - THADS tỉnh Quảng Trị; - Phòng PV06 CA Quảng Trị; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn THS, VP TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Thái Sơn |