vanban.org

Bản án 14/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận cho anh Chiêm Thành A được ly hôn với chị Lê Diễm H.

Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: anh Chiêm Thành A phải nộp án phí là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà anh A đã nộp theo biên lai thu số 0005785 ngày 23/10/2025 của Thi h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chiêm Thành A - Lê Diễm H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận cho anh Chiêm Thành A được ly hôn với chị Lê Diễm H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 –AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 16-01-2026
“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hoàng Mến

Bà Lương Thị Hồng Hạnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Hoàng Hạt – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 318/2025/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 355/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 272/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2025 giữa:

- Nguyên đơn: anh Chiêm Thành A, sinh ngày 19/01/1994 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã K, tỉnh A

- Bị đơn: chị Lê Diễm H, sinh ngày 14/03/1998 (Vắng mặt không có lý do)

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, tỉnh A

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 09/9/2025, bản tự khai và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn anh Chiêm Thành A như sau:

Năm 2023 anh A và chị Lê Diễm H gặp và quen biết nhau ở Rạch G thuộc tỉnh K cũ – nay là tỉnh An Giang, anh chị tìm hiểu nhau được vài tháng thì anh chị có tình cảm với nhau và quyết định kết hôn với nhau, anh chị không có tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh K vào ngày 17/10/2023. Sau khi kết hôn thì anh và chị H sống hạnh phúc đến năm 2024 thì bắt đầu mâu thuẫn nguyên nhân là do hai người không hợp về vấn đề kinh tế của vợ chồng, không có tiếng nói chung, không cùng quan điểm về việc làm ăn nên anh và chị H thường xuyên cãi nhau làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc, từ đó anh chị đã tự ly thân từ tháng 9/2025 đến nay. Hiện nay anh đang làm công nhân trên Bình Dương, còn chị Diễm H thì về nhà cha mẹ ruột sống, mỗi người sống một nơi. Anh A xét thấy không còn tình cảm với chị Huỳnh N nên anh A quyết định ly hôn với chị H. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung không có.

Tại phiên tòa, anh Chiêm Thành A yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân yêu cầu được ly hôn với chị Lê Diễm H. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung không có nên anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh A không trình bày gì thêm.

* Đối với bị đơn chị Lê Diễm H không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng chị H không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của chị.

Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên xử về hôn nhân chấp nhận cho anh Chiêm Thành A được ly hôn với chị Lê Diễm H . Về con chung, về tài sản chung và nợ chung anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Anh Chiêm Thành A yêu cầu ly hôn với chị Lê Diễm H . Bị đơn có địa chỉ đăng ký thường trú tại ấp H, xã Đ, tỉnh A nên Tòa án nhân dân khu vực 5 – An Giang xác định quan hệ pháp luật “ly hôn” và thụ lý, giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chị Lê Diễm H với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng chị H vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: anh Chiêm Thành A và chị Lê Diễm H tự quen biết, tìm hiểu trong thời gian ngắn thì anh chị tự nguyện tổ chức đám cưới và anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh K theo giấy chứng nhận kết hôn số 95 ngày 17/10/2023, cho nên theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu khởi kiện của anh A là anh có nguyện vọng được ly hôn với chị H lý do hai người không hợp về vấn đề kinh tế của vợ chồng, không có tiếng nói chung, không cùng quan điểm về việc làm ăn nên anh và chị H thường xuyên cãi nhau làm cho hôn nhân không còn hạnh phúc. Anh A xét thấy không còn tình cảm với chị Huỳnh nữa nên anh A quyết định ly hôn với chị H. Tòa án đã tiến hành thông báo mời hòa giải nhằm tạo điều kiện cho hai bên hàn gắn lại hôn nhân nhưng chị H không có mặt nên không thể tiến hành hoà giải được. Tại phiên toà, anh A và chị H cũng không gặp nhau và anh A vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn với chị H vì anh và chị H đã không sống với nhau từ tháng 9/2025 đến nay nên không còn tình cảm yêu thương dành cho chị H. HĐXX thấy rằng, do trước khi kết hôn anh chị đã không tìm hiểu rõ tính tình của nhau mà vội vàng kết hôn với nhau nên anh chị chỉ chung sống với nhau được khoảng một năm thì đã xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến không còn duy trì được tình yêu thương dành cho nhau và đã ly thân mỗi người sống một nơi từ tháng 9/2025 đến nay, cho thấy tình trạng hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh A là phù hợp.

Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: anh A xác định là không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.

Đối với bị đơn chị Lê Diễm H, Tòa án tiến hành thẩm tra, xác minh cho thấy chị H có đăng ký thường trú tại ấp H, xã Đ, tỉnh A nhưng chị H vắng mặt ở nơi cư trú, không rõ thời điểm trở về và không xác định được địa chỉ nơi cư trú mới. Tòa án căn cứ Điều 175, Điều 177, Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng đối với chị H theo quy định nhưng chị H vẫn không có mặt không có lý do và chị H cũng không gửi bất cứ văn bản nào thể hiện ý kiến và yêu cầu của mình đối với yêu cầu khởi kiện của anh A cho Tòa án nên HĐXX không thể xem xét nguyện vọng của chị.

Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: bằng 300.000 đồng, anh A phải nộp do có yêu cầu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 175, Điều 177, Điều 179, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên xử: chấp nhận cho anh Chiêm Thành A được ly hôn với chị Lê Diễm H.

2. Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Miễn xét.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: anh Chiêm Thành A phải nộp án phí là 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí mà anh A đã nộp theo biên lai thu số 0005785 ngày 23/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Như vậy, anh A đã nộp xong án phí HNST.

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án ngày 16/01/2026. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ