- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hoàng Văn V"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Văn V được ly hôn với bà Lương Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2026/HNGĐ-ST Ngày: 25-3-2026 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hải Đoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Hải Quân.
Bà Hoàng Thị Bích Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Vy Khánh Ly - Thư ký viên, Tòa án nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Hiển - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vưc 4 - Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 74/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2025, về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2026/QÐXXST-HNGÐ ngày 11 tháng 02 năm 2026, Quyết định hoãn phiên toà số: 10/2026/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn K, xã Y, tỉnh Lạng Sơn. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Lương Thị C, sinh năm 1965. Địa chỉ: Thôn K, xã Y, tỉnh Lạng Sơn. Số CCCD: xxxxxxxxxxxx. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 13 tháng 11 năm 2025, trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Hoàng Văn V trình bày:
Ông Hoàng Văn V và bà Lương Thị C đăng ký kết hôn từ năm 1983 và có 03 người con chung đều trên 18 tuổi, do giấy đăng ký kết hôn bị mất nên ngày 03/7/2019, hai vợ chồng đăng ký kết hôn lại tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã Y, tỉnh Lạng Sơn).
Từ khoảng đầu năm 2020, cuộc sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, đến năm 2021 mâu thuẫn xảy ra thường xuyên hơn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, bất đồng về kinh tế v.v. , do tính nóng nảy không kiểm soát được bản thân nên có đánh bà C một vài lần. Từ đầu năm 2022 đến hết năm 2023, vợ chồng mặc dù vẫn sống chung nhà nhưng không hỏi thăm, không quan tâm gì đến nhau. Đến đầu năm 2024, ông V đi làm thuê xa nhà, vợ chồng cũng không liên lạc hỏi thăm nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Đầu năm 2025, ông V về nhà nhưng bà C không quan tâm đến ông, mỗi người một công việc nên từ khoảng tháng 6/2025 âm lịch đến nay ông V chuyển lên nhà quán của vợ chồng để tự sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó đến nay.
Từ khi ly thân, hai vợ chồng không còn ai quan tâm đến ai, người nào chỉ biết bổn phận của người đó, xác định tình cảm vợ chồng không còn Ông Hoàng Văn V yêu cầu được ly hôn với bà Lương Thị C.
Về con chung vợ chồng có 03 người con chung, con lớn Hoàng Văn H sinh ngày 23/11/1985, con thứ hai Hoàng Đình L sinh ngày 01/8/1988, con nhỏ Hoàng Văn Đ sinh ngày 01/4/1991. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, sức khoẻ tốt tự nuôi sống được bản thân, do vậy không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết. Về án phí đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Tại Biên bản lấy lời khai ngày 11 tháng 01 năm 2026, bị đơn bà Lương Thị C trình bày:
Về thời gian kết hôn như ông Hoàng Văn V trình bày là đúng, sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng sống hạnh phúc. Khoảng từ tháng 8/2023, ông V bỏ nhà đi làm thuê ở trại lợn đến tháng 02/2025 âm lịch mới quay về nhà. Trong thời gian đó ông V có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ con, bà C phải một mình lo tất cả các công việc lớn nhỏ trong gia đình. Từ tháng 02/2025 đến tháng 9/2025 âm lịch, ông V quay về nhà nhưng thường xuyên chửi bới, đánh đập bà C, hàng xóm phải đến can ngăn. Mâu thuẫn lên đỉnh điểm từ tháng 9/2025 đến nay bà và ông V sống ly thân, không còn quan tâm đến cuốc sống của nhau. Nay ông Hoàng Văn V yêu cầu ly hôn bà C không đồng ý, do thương các con chưa lập gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung, con lớn Hoàng Văn H sinh ngày 23/11/1985, con thứ hai Hoàng Đình L sinh ngày 01/8/1988, con nhỏ Hoàng Văn Đ sinh ngày 01/4/1991. Hiện nay các con chung đều đã trưởng thành, sức khoẻ tốt tự nuôi sống được bản thân không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của họ; bị đơn thực hiện chưa đúng quyền và nghĩa vụ theo Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông Hoàng Văn V về việc ly hôn với bà Lương Thị C. Về con chung, đều đã trưởng thành trên 18 tuổi, không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung không xem xét giải quyết. Về án phí căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn bà Lương Thị C vắng mặt. Xét thấy, bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, do vậy, căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Văn V và bà Lương Thị C tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 03/7/2019, tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh Lạng Sơn (nay là xã Y, tỉnh Lạng Sơn), nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Về yêu cầu ly hôn: Xét thấy, cuộc sống hôn nhân có nhiều bất đồng dẫn đến vợ chồng thường xuyên căng thẳng, không hạnh phúc. Từ tháng 6 năm 2025 đến nay vợ chồng sống ly thân không còn quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Mâu thuẫn vợ chồng ở trên phù hợp với biên bản xác minh ngày 11/01/2026 của Tòa án. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
Về con chung: Ông Hoàng Văn V và bà Lương Thị C có 03 người con chung, con lớn Hoàng Văn H sinh ngày 23/11/1985, con thứ hai Hoàng Đình L sinh ngày 01/8/1988, con nhỏ Hoàng Văn Đ sinh ngày 01/4/1991. Xét thấy, các con chung đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi), có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động để tự nuôi sống bản thân, đương sự không ai yêu cầu giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch trong vụ án ly hôn, để nộp ngân sách Nhà nước.
Xét thấy, ý kiến tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định ở trên nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Hoàng Văn V được ly hôn với bà Lương Thị C.
2. Về con chung: Ông Hoàng Văn V và Lương Thị C có 03 người con chung, con lớn Hoàng Văn H sinh ngày 23/11/1985, con thứ hai Hoàng Đình L sinh ngày 01/8/1988, con nhỏ Hoàng Văn Đ sinh ngày 01/4/1991, đều đã trưởng thành (trên 18 tuổi) không yêu cầu giải quyết.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Ông Hoàng Văn V phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, để nộp ngân sách Nhà nước. Xác nhận ông Hoàng Văn V đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số: 0000908 ngày 14 tháng 11 năm 2025, của Thi hành án dân sự tỉnh Lạng Sơn.
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Lạng Sơn; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 - Lạng Sơn; - UBND xã Yên Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Hải Đoàn |