vanban.org

Bản án 14/2026/HC-PT — Hành chính

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 29/09/2026 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 29/09/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị Đ.

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ về việc hủy: Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ) về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Vũ Thị Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Vũ Thị Đ - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 157 Luật tố tụng hành chính; Điều 241 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2026/HC-PT
Ngày 29 - 9 - 2026
V/v khiếu kiện quyết định và hành vi hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn A Đam

Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Văn Yên

Ông Đặng Minh Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Thế Bắc là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trung Biển - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 21/2026/TLPT-HC ngày 04 tháng 9 năm 2026, về việc “Khiếu kiện quyết định và hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 08/2026/HC-ST ngày 31 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 21/2026/QĐ-PT ngày 04 tháng 9 năm 2026, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Vũ Thị Đ, sinh năm 1964, căn cước công dân số 036164011981 ngày cấp 07/8/2025.

Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông Đinh Văn D, sinh năm 1958, căn cước công dân số 096058004816 ngày cấp 09/8/2021. Địa chỉ: Ấp C (nay là ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau (là người đại diện theo uỷ quyền, hợp đồng uỷ quyền ngày 09/6/2026, có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Vũ Thị Đ: Ông Nguyễn Thanh Đ1, sinh năm 1966; Địa chỉ: Số A, đường N, khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Người bị kiện:

1/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số B - đường H, phường T, tỉnh Cà Mau.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch UBND tỉnh C:

+ Ông Huỳnh Thanh D1, sinh năm 1973 (CCCD số 096073010697, cấp ngày 18/12/2024), chức vụ là Phó Giám đốc Sở N (vắng mặt).

+ Ông Lê Văn M, sinh năm 1974 (CCCD số 096074004397, cấp ngày 20/8/2021), chức vụ là Phó Chi cục trưởng C, Sở N (có mặt).

Cùng địa chỉ cơ quan: Số G - đường N, phường A, tỉnh Cà Mau.

2/ Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ và Ủy ban nhân dân xã Đ: Ông Trần Viết L, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã (là người đại diện theo uỷ quyền, vắng mặt).

Cùng địa chỉ cơ quan: Ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau.

3/ Ủy ban nhân dân xã Đ (vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND xã Đ: Ông Lê Thanh M1 - Chức vụ: Phó trưởng phòng Kinh tế (có mặt).

Cùng địa chỉ cơ quan: Ấp K, xã Đ, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh C (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số E - đường T, khóm D, phường T, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Bà Vũ Thị Đ là người khởi kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án người khởi kiện trình bày:

Bà Vũ Thị Đ yêu cầu Toà án giải quyết hủy Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) huyện N (nay kế thừa là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ); hủy Quyết định số 0805/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C. Bà Đ yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Đ thực hiện bồi thường cho bà Đ toàn bộ diện tích 27.461,7m2 tại thửa đất số 7,8,9, tờ bản đồ số 02 tại ấp S, xã Đ gồm cây trồng, vật nuôi, vật kiến trúc gắn liền với đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại. Buộc Ủy ban nhân dân xã Đ thực hiện các chính sách hỗ trợ theo quy định pháp luật, cụ thể yêu cầu bồi thường mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, cây trồng hỗ trợ theo giá trị thực tế 100% với mức giá bà Đ yêu cầu như sau:

- Không thống nhất mức hỗ trợ về đất diện tích 27.461,7m2 số tiền hỗ trợ 659.080.800 đồng. Yêu cầu hỗ trợ giá đất theo giá thực tế 45.000 đồng/m2, không yêu cầu bồi thường mức 24.000 đồng/m2.

- Đối với cây trồng trên đất thì thống nhất về số lượng cây, chủng loại nhưng không thống nhất về giá, trước đây Uỷ ban hỗ trợ cây trồng giá 224.380.000 đồng, nay mức giá bà Đ yêu cầu theo thực tế đối với cây lấy gỗ đước 100.000đ/cây, cây keo lai 200.000đ/cây.

- Yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Đ hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm 60.000đ/m2 x 4 = 240.000đ/m2.

Căn cứ khởi kiện:

Nguồn gốc đất của bà Đ nhận chuyển nhượng từ ông Phạm H, có giấy tay vào năm 1994, bà Đ sử dụng ổn định từ năm 1994 cho đến khi Nhà nước thu hồi đất. Theo văn bản số 3620 của UBND tỉnh C ngày 10/7/2015 đã xác định đất của bà không phải đất Quốc Phòng (thửa 6,7) nên phần đất hiện nay bà quản lý, bị thu hồi không thuộc loại đất Quốc Phòng.

Ngày 14/10/2024, UBND huyện N (nay kế thừa là UBND xã Đ) ban hành phương án số 07 và số 42 về việc hỗ trợ thực hiện dự án vị trí đóng quân Cục 72/Tổng cục I nhưng không áp dụng đầy đủ các điều khoản về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 102, 103, 104, 107, 109 và Điều 117 của Luật Đất đai năm 2024 đối với nhà, công trình, cây trồng, vật nuôi, chi phí đầu tư vào đất còn lại, chi phí di chuyển tài sản, hỗ trợ chuyển đổi nghề và các chính sách hỗ trợ khác Luật đất đai năm 2024 nên ngày 02/01/2025, bà Đ gửi đơn khiếu nại phương án số 07 và phương án số 42 nêu trên đến Chủ tịch UBND huyện N để được xem xét, bồi thường, hỗ trợ theo đúng quy định của Luật đất đai 2024.

Tại Quyết định (viết tắt QĐ) số 1136 ngày 08/5/2025 của Chủ tịch UBND huyện N (nay kế thừa là Chủ tịch UBND xã Đ) trả lời “...chỉ đạo Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện lập phương án hỗ trợ phần đất cho bà Đ bằng 40% giá đất, hỗ trợ nhà và vật kiến trúc bằng 25% được quy định tại QĐ số 41 ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh C về ban hành bảng giá các loại đất…” bác đơn khiếu nại của bà Đ.

Ngày 19/5/2025 bà Đ khiếu nại QĐ số 1136 ngày 08/5/2025 giải quyết khiếu nại Chủ tịch UBND huyện N.

Ngày Tại QĐ số 0805 ngày 29/8/2025 của Chủ tịch UBND tỉnh C căn cứ khoản 4 Điều 81, khoản 3, 4 Điều 101 Luật đất đai năm 2024 về trường hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, bác khiếu nại và giữ nguyên QĐ giải quyết khiếu nại lần đầu.

Việc UBND tỉnh căn cứ vào QĐ số 41 ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh về bảng giá đất trên địa bàn tỉnh Cà Mau để áp dụng chính sách bồi thường, hỗ trợ đối với bà là không phù hợp, không bảo đảm sự công bằng so với một số hộ dân khác có điều kiện sử dụng đất tương tự, cụ thể là hộ bà Cao Thị L1 và ông Trương Đức T, mặc dù các hộ này cũng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng được bồi thường, hỗ trợ với mức cao hơn.

Do đó bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nêu trên.

* Người bị kiện Chủ tịch UBND xã Đ và UBND xã Đ trình bày:

Về nguồn gốc đất: Thửa đất của bà Đ bị thu hồi có nguồn gốc là đất Q, nguồn gốc đất trước ngày 07/6/1992 thuộc Đơn vị k51 tiếp quản căn cứ đóng quân trên địa bàn Năm Căn diện tích 177,3ha. Trong đó khu căn cứ quân sự khoảng 105ha, phần còn lại là khu đất sản xuất 72,3ha. Ngày 25/10/1989 UBND tỉnh M ban hành QĐ 274 giao đất cho Hải Q vùng 5. Đến ngày 23/5/1992 đơn vị K51 thuộc vùng 5 Hải Quân bàn giao khu đất này cho UBND huyện N quản lý 72,3ha. Ngày 07/6/1992 Quân khu I1 ban hành QĐ số 37 bàn giao khu đất cho Bộ chỉ huy quân sự huyện N diện tích 105ha bao gồm phạm vi Kênh Xáng 100m từ mé sông lên với diện tích khoảng 19ha. Ngày 25/3/1994 UB tỉnh M cấp GCNQSDĐ số C146079 cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh M với diện tích 105 ha. Ngày 24/8/2007 Bộ Q1 có Công văn 4579 đồng ý cho Quân K 9 chuyển giao một phần đất Quốc phòng diện tích 19ha để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế xã hội. Ngày 07 tháng 8 năm 2008 UBND tỉnh C ban hành QĐ thu hồi đất của Ban Chỉ huy QS huyện N để giao cho UBND thị trấn N quản lý để sắp xếp dân cư với diện tích khoảng 20,4ha. Tăng giảm do đo đạc.

Do khu đất của bà Đ nằm trong diện tích đất Quốc phòng nên căn cứ các công văn: Công văn số 441 ngày 17/01/2024 của UBND tỉnh C V/v thực hiện thu hồi đất, hỗ trợ di dời hộ gia đình, cá nhân; Công văn 7439 ngày 10/9/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc điều chỉnh chính sách hỗ trợ, di dời các hộ gia đình, cá nhân tại Sân bay N; Công văn 552 ngày 15/01/2022 của UBND tỉnh C về việc xin ý kiến bồi thường, hỗ trợ các hộ ảnh hưởng trên khu vực 50ha được Bộ T2 điều chuyển từ bộ I1 cho Tổng cục Q1 để thực hiện dự án Q (dự án vị trí đóng quân Cục 72) nên không bồi thường về đất mà chỉ hỗ trợ về đất, cây trồng, vật nuôi, nhà ở, công trình vật kiến trúc.

Từ đó UBND tỉnh C đã có chính sách hỗ trợ về đất: Hỗ trợ các hộ dân sử dụng đất quốc phòng trước ngày 01/7/2014 mức hỗ trợ bằng 40% giá đất cùng loại theo bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành x với diện tích đất đang sử dụng. Do đó Hội đồng bồi thường hỗ trợ tái định cư huyện N đã áp giá hỗ trợ về đất cho bà Định mức 40% là đúng quy định.

Hỗ trợ khác đối với cây trồng theo quy định tại QĐ 40 ngày 18/12/2019 của UBND tỉnh C.

Từ đó UBND xã Đ giữ nguyên quan điểm theo Quyết định số 1136 của Chủ tịch UBND huyện N cũ về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với bà Vũ Thị Đ. Đề nghị Toà án bác đơn khởi kiện của bà Đ.

- Người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh C trình bày:

Nguồn gốc đất trước ngày 07/6/1992 do đơn vị K51 thuộc vùng 5 Hải quân quản lý sử dụng. Trong quá trình quản lý, đơn vị K51 cấp một phần diện tích đất cho cán bộ Hải quân để làm nhà ở, trồng trọt, chăn nuôi cải thiện cuộc sống và giao khoán đất khu vực vành đai sân bay 3 Năm Căn cho các hộ gia đình, cá nhân nuôi tôm (có phiếu giao khoán làm vuông tôm, Hợp đồng kinh tế về việc khoán đất nuôi tôm).

Từ ngày 7/6/1992, Quân khu I1 giao cho Ban chỉ huy QS huyện Ngọc Hiển cũ và Bộ chỉ huy quân sự quản lý. Sau khi Ban chỉ huy QS huyện Ngọc H1 cũ quản lý, tiếp tục ký hợp đồng kinh tế khoán đất nuôi tôm khu vực vành đai sân bay Năm Căn với các hộ gia đình, cá nhân (có Hợp đồng kinh tế, danh sách và phiếu thu thuế).

Trong quá trình sử dụng đất giao khoán nuôi tôm, một số hộ gia đình, cá nhân tự ý chuyển nhượng cho người khác hoặc cho người khác sử dụng; bên cạnh đó, có một số hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất trong khu vực vành đai sân bay N cho rằng tự chiếm sử dụng, rồi sang nhượng, hoán đổi, tặng cho nhưng không kê khai đăng ký sử dụng đất, không có xác nhận của chính quyền địa phương. Trong đó có hộ ông Phạm H, ông Phạm H tự ý chuyển nhượng lại cho bà Đ sử dụng vào năm 1994, có giấy tờ chuyển nhượng đất nhưng không kê khai đăng ký sử dụng đất theo quy định luật đất đai, bà Vũ Thị Đ sử dụng đến khi Nhà nước thu hồi đất.

Tóm lại, khu vực đất vành đai sân bay N là đất quốc phòng, trước ngày 7/6/1992 do đơn vị K51 thuộc vùng 5 Hải quân quản lý, sử dụng. Từ ngày 7/6/1992, quân khu 9 giao Ban chỉ huy QS huyện I1 cũ, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh M quản lý, sử dụng và được UBND tỉnh M cũ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/3/1994, với diện tích 1.050.000m2. Ngày 15/01/2008, chuyển giao và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban chỉ huy quân sự huyện N cũ quản lý, sử dụng.

Ngày 09/12/2010, chuyển giao và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 500039 cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh C, diện tích 916.315,2m2 thửa đất số 24 tờ bản đố số 38. Ngày 22/11/2021, Tổng tham mưu trưởng Q2 ban hành Quyết định số 2709/QĐ-TM về việc điều chuyển quyền quản lý, sử dụng khoảng 50ha đất quốc phòng do Quân khu I1 đang quản lý tại sân bay N cho tổng cục Q1 quản lý, sử dụng vào mục đích quốc phòng.

Theo nội dung thỏa thuận trong các Phiếu khoán, Hợp đồng khoán đất nuôi tôm năm 1992, 1996 và 2001 “…Người nhận đất giao khoán không được sáng nhượng, bán, đổi hoặc cho người khác thuê… Trong thời gian hợp đồng nếu có lệnh cấp trên lấy lại phần đất khoán để sử dụng cho các công trình Quốc phòng thì người nhận khoán phải trả lại đất và bên giao khoán sẽ không bồi hoàn tiền đầu tư vào đất cho bên nhận khoán…”.

Căn cứ khoản 5 Điều 81 Luật đất đai năm 2024, về các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai, quy định “Đất được nhà nước giao quản lý mà để bị lấn đất, chiếm đất”; khoản 4 Điều 101 Luật đất đai năm 2024 về trường hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, quy định: “Trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 96 của Luật này”.

Mặt khác, khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án vị trí đóng quân cục 72/Tổng cục I, Ủy ban nhân dân tỉnh có công văn số 572 ngày 15/11/2022 về việc xin ý kiến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ các hộ bị ảnh hưởng dự án và được Bộ I1, Bộ Q1 thống nhất chủ trương tại công văn số 275 ngày 20/02/2023. Theo đó, đã xem xét vận dụng quy định pháp luật để hỗ trợ cho hộ bà Vũ Thị Đ bị ảnh hưởng bởi dự án.

Từ những cơ sở, căn cứ nêu trên nhận thấy: Nguồn gốc là đất quốc phòng, được cấp có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Tổng Tham mưu trưởng Q2 ban hành Quyết định số 2709/QĐTM điều chuyển tài sản công, do đó xác định đây là đất do Nhà nước quản lý. Căn cứ khoản 4 Điều 81, khoản 3 và khoản 4 Điều 101 Luật Đất đai năm 2024 và các quy định pháp luật có liên quan, xét thấy nội dung khiếu nại của bà Vũ Thị Đ là không có cơ sở để xem xét giải quyết. Do đó, ngày 29/8/2025, Chủ tịch UBND tỉnh ban hành QĐ 0805 giữ nguyên QĐ số 1136 của Chủ tịch UBND huyện N về việc giải quyết khiếu nại lần đầu đối với bà Vũ Thị Đ.

- Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực 3 - Đất Mới trình bày: Phần đất bà Vũ Thị Đ quản lý có nguồn gốc là đất quốc phòng, Ban chỉ huy phòng thủ khu vực 3 - Đ thống nhất với quan điểm của Chủ tịch UBND tỉnh C và Chủ tịch UBND xã Đ, các văn bản, quyết định được ban hành là đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định nên đề nghị không chấp nhận yêu cầu của bà Đ.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện: Ông D xác định thửa đất bà Đ bị thu hồi theo Quyết định thu hồi đất số 2888/QĐ-UBND ngày 20/12/2024 của UBND huyện N (nay kế thừa là UBND xã Đ) có diện tích 27.461,7m2 tại thửa đất số 8, tờ bản đồ số địa chính số 01 tại khóm S, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau. Bảo lưu các yêu các yêu cầu khởi kiện.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2026/HC-ST ngày 31/7/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cà Mau đã quyết định:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ về việc hủy:

- Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ) về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Vũ Thị Đ.

- Quyết định giải quyết khiếu nại số 0805/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Vũ Thị Đ.

- Buộc Ủy ban nhân dân xã Đ thực hiện bồi thường cho bà Vũ Thị Đ toàn bộ diện tích 27.461,7m2 tại thửa đất số 8 tờ bản đồ số 01 tại ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau gồm cây trồng, vật nuôi, vật kiến trúc gắn liền với đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại.

Buộc Ủy ban nhân dân xã Đ thực hiện các chính sách hỗ trợ theo quy định pháp luật.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 10 tháng 8 năm 2026, bà Vũ Thị Đ kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện người khởi kiện trình bày: Giữ nguyên nội dung kháng cáo, yêu cầu hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Bởi lẽ, Bản án sơ thẩm nhận định nguồn gốc đất là đất quốc phòng là không chính xác, bà Đ đã sử dụng đất từ năm 1989 được chính quyền địa phương thừa nhận tại biên bản cuộc họp ngày 19/10/1989 của UBND huyện N. Ngoài ra, năm 1994, UBND tỉnh cấp đất cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh M không tuân thủ quy định về pháp luật đất đai về thu hồi đất, giao đất nhưng không bồi thường; Ngày 27/02/2015, Bộ Q1 có văn bản số 1584/BQP-PM về việc chuyển giao đất quốc phòng do Quân K 9 quản lý cho địa phương tỉnh Cà Mau quản lý, nhưng cấp sơ thẩm chưa xem xét yếu tố này. Ngoài ra, Bản án sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng còn nhiều sai sót trong thu thập, xác minh nguồn gốc đất, do đất bà Đ có nguồn gốc sử dụng trước năm 1975; Hội đồng xét xử không đánh giá khách quan các chứng cứ, luận cứ bảo vệ của người khởi kiện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện là UBND xã Đ, tỉnh Cà Mau trình bày: Không đồng ý với kháng cáo và căn cứ kháng cáo của người khởi kiện bà Vũ Thị Đ bởi, phương án bồi thường, hỗ trợ Ủy ban nhân dân xã Đ đã áp dụng đúng quy định pháp luật, căn cứ vào Luật đất đai năm 2024; Công văn 441/UBND-NNTN ngày 17/01/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc hỗ trợ di dời các hộ gia đình, cá nhân tại sân bay N. Bà Đ có 02 phần đất, 01 phần nằm trong Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 07/01/2008 về việc thu hồi 204.758,9m2 và giao cho UBND thị trấn N quản lý tại Quyết định số 12/QĐ-UBND ngày 07/01/2008, phần này khi làm Cầu Kinh T1 đã bồi thường cho bà Đ một phần vào năm 2016; Đối với phần đất có diện tích 27.461,7m2 là phần đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh C, thể hiện tại Bản vẽ hiện trạng ngày 10/11/2022 của Trung tâm Kỹ thuật , quan trắc tài nguyên và Môi trường tỉnh C. Do đó, phần đất này của bà Vũ Thị Đ có nguồn gốc là đất Quốc phòng nên chỉ được hỗ trợ 40%, các cây trồng, tài sản trên đất đã bồi thường xong. Bà Đ đã nhận tiền và cam kết giao đất cho Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư xã Đ và Hội đồng đã giao phần đất này cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh C để bàn giao cho Cục I. Về chi phí tố tụng đồng ý giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Chủ tịch UBND tỉnh C trình bày: Thống nhất với lời trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND xã Đ, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, các bên đương sự đã chấp hành đúng quy định Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính. Không chấp nhận kháng cáo của bà Vũ Thị Đ, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy:

Xét đơn kháng cáo của bà Vũ Thị Đ thực hiện trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Về tố tụng:

- Người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh C; Chủ tịch UBND xã Đ, tỉnh Cà Mau; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh C có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 157 của Luật tố tụng hành chính. Xét xử vắng mặt đương sự theo quy định của pháp luật.

- Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Bà Đ yêu cầu hủy Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ) về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Vũ Thị Đ; Quyết định giải quyết khiếu nại số 0805/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Vũ Thị Đ. Do đó, quan hệ pháp luật là "khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai" theo quy định tại Điều 22 Luật đất đai và các Quyết định này là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân, được quy định tại khoản 1 Điều 30 và Điều 32 Luật tố tụng hành chính.

- Xét về trình tự, thủ tục ban hành hủy Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ) về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Vũ Thị Đ; Quyết định giải quyết khiếu nại số 0805/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Vũ Thị Đ. Hội đồng xét xử thấy các quyết định được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại theo quy định của Luật khiếu nại và Pháp luật có liên quan.

- Về thời hiệu khởi kiện quyết định hành chính: Hủy Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ) về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Vũ Thị Đ; Quyết định giải quyết khiếu nại số 0805/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Vũ Thị Đ, ngày 22/9/2025 bà Đ gửi đơn khởi kiện đến Tòa án, nên còn thời hiệu khởi kiện được quy định tại Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

- Về xác định tư cách tham gia tố tụng: Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, Ban Chỉ huy phòng thủ khu vực 3 – Đ đã bị giải thể, hiện chưa có đơn vị nào thay thế. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không đưa họ vào tham gia tố tụng vẫn đảm bảo nội dung giải quyết vụ án.

Xét kháng cáo yêu cầu hủy bản án sơ thẩm của người khởi kiện bà Vũ Thị Đ thấy rằng:

Về nguồn gốc đất, khu vực đất vành đai sân bay N là đất quốc phòng, trước năm 1992 do đơn vị K51 thuộc Vùng 5 Hải quân quản lý; được thể hiện tại cuộc họp ngày 16/10/1989 về việc giải quyết ranh giới phạm vi căn cứ Hải quân Năm Căn giữa Bộ Tư lệnh vùng 5 Hải quân và UBND huyện N. Trách nhiệm của UBND huyện N giải tỏa số hộ dân cư ấp S nằm trong phạm vi đất quân sự; tạo 01 đường ranh dọc đường K đào cách 100m để phân định ranh giới đất quân sự và địa phương theo tinh thần cuộc họp ngày 16/10/1989.

- Từ ngày 07/6/1992, Quân khu I1 giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh M và Ban Chỉ huy quân sự huyện N quản lý, sử dụng. Ngày 05/3/1994, UBND tỉnh M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt Giấy chứng nhận) cho Tỉnh đội M2, diện tích 1.050.000m2, tại thị trấn N, huyện N.

- Tại Quyết định số 11/QĐ-UBND, ngày 07/01/2008 của UBND tỉnh C thu hồi đất của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh C diện tích 204,785,9m2 và tại Quyết định số 12/QĐ-UBND, ngày 07/01/2008, UBND tỉnh C giao toàn bộ diện tích đất 204,785,9m2 cho UBND thị trấn N quản lý. Ngày 09/12/2010, chuyển giao và cấp Giấy chứng nhận số BD 500039 cho Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh C, với diện tích 916.315,2m2, thửa số 24, thuộc tờ bản đồ số 38.

- Tại Quyết định số 2709/QĐ-TM ngày 22/11/2021 của Tổng Tham mưu trưởng Q2 về việc điều chuyển quyền quản lý, sử dụng khoảng 50 ha đất quốc phòng do Quân khu I1 đang quản lý tại sân bay N, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau cho Tổng cục Q1 quản lý, sử dụng vào mục đích quốc phòng. Tại Điều 1 có nội dung: điều chuyển quyền quản lý, sử dụng khoảng 50 ha đất quốc phòng...; trong đó: Khoảng 13,6ha đất không bị lấn chiếm và 36,4ha thuộc khu đất quốc phòng, 73,4ha bị lấn chiếm (có sơ đồ khu đất kèm theo).

Từ những nội dung trên đã xác định từ năm 1989 đã có văn bản xác định đất quốc phòng; diện tích đất bị thu hồi của bà Đ thuộc đất quốc phòng.

Tại Biên bản số 1093/BB-QK ngày 23/4/2024 họp thống nhất giải quyết một số vấn đề còn khó khăn, vướng mắc trong hỗ trợ giải phóng mặt bằng di dời các hộ gia đình, cá nhân; chủ trì cuộc họp có Phó tư lệnh Quân khu I1 và Phó Chủ tịch UBND tỉnh C, thành phần tham dự: đại diện Quân khu I1; đại diện lãnh đạo các sở ban ngành của tỉnh Cà Mau; Cục G, Q1.

Nội dung cuộc họp: Về kinh phí, ngày 28/02/2024 Bộ trưởng Bộ Q1 ký quyết định số 743/QĐ-BQP về việc giao dự toán ngân sách chi thường xuyên cho quốc phòng, trong đó bố trí vốn để hỗ trợ giải phóng mặt bằng di dời các hộ dân tại sân bay N; UBND tỉnh C phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

- Xét thấy những tồn tại trên khu đất này do công tác quản lý đất đai trước đây còn thiếu chặt chẽ, mang yếu tố lịch sử để lại, việc lấn chiếm đất trong thời gian dài chưa được giải quyết, xử lý dứt điểm. Do đó, để tháo gỡ khó khăn, giải quyết dứt điểm vụ việc, thống nhất khi xem xét thực hiện thu hồi đất, hỗ trợ di dời các hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng thì không bồi thường, hỗ trợ về đất, mà chỉ hỗ trợ về cây trồng, vật nuôi, nhà ở, công trình vật kiến trúc để người dân di dời ổn định cuộc sống và sản xuất.

Đối với phần đất diện tích 27.461,7m2 nuôi trồng thủy sản thửa đất số 7,8, 9, tờ bản đồ số 02 tại ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau bà Đ đang sử dụng. Quá trình sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất, không kê khai đăng ký đất đai, không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tại Bản vẽ hiện trạng ngày 10/11/2022, của Trung tâm Kỹ thuật , quan trắc tài nguyên và Môi trường tỉnh C thể hiện phần đất có diện tích 27.461,7m2 bà Đ quản lý nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh C.

Theo khoản 3 và khoản 4 Điều 101 Luật Đất đai năm 2024 quy định trường hợp không được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, trong đó có trường hợp đất thuộc diện vi phạm pháp luật về đất đai hoặc người sử dụng đất không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ nguồn gốc và quá trình sử dụng đất nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bà Vũ Thị Đ không đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đang sử dụng và không thuộc trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi. Trên cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền đã xem xét hỗ trợ cho bà Đ theo chính sách của UBND tỉnh. Vì vậy, việc không bồi thường giá trị quyền sử dụng đất mà chỉ xem xét hỗ trợ đối với bà Đ theo bản triết tính với số tiền 854.481.907 đồng là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với kháng cáo của bà Đ yêu cầu áp dụng Luật Đất đai năm 2024, để giải quyết quyền lợi cho bà khi thu hồi đất thì thấy rằng các chế độ bồi thường, hỗ trợ nêu trên chỉ được xem xét khi người sử dụng đất đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật. Trong vụ án này, diện tích đất bà Đ sử dụng thuộc đất quốc phòng do Nhà nước quản lý; bà Đ không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất hợp pháp và không đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất như đã phân tích trên. Mặt khác, cơ quan có thẩm quyền đã xem xét vận dụng chính sách hỗ trợ có lợi cho các hộ dân bị ảnh hưởng theo chủ trương của UBND tỉnh và Bộ Q1 là đúng quy định tại Điều 108 Luật đất đai 2024. Do đó, kháng cáo của bà Đ là không có căn cứ chấp nhận.

Đối với kháng cáo của người khởi kiện bà Vũ Thị Đ cho rằng Công văn 1584/BQP-PM ngày 27/02/2015 của Bộ Q1 đồng ý chuyển giao 734.650m2 đất do Ban Chỉ huy quân sự huyện N thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh C quản lý. Tuy nhiên, đất do địa phương quản lý nhưng nguồn gốc là đất quốc phòng, việc thu hồi, bồi hoàn, hỗ trợ chuyển giao phải thực hiện theo quy định về đất là nguồn gốc đất quốc phòng. Mặc khác, từ ngày Bộ Q1 có chủ trương chuyển giao đất cho địa phương quản lý ngày 27/02/2015 đến nay bà Vũ Thị Đ không được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Do đó, UBND tỉnh C đã có chính sách hỗ trợ về đất: Hỗ trợ các hộ dân sử dụng đất quốc phòng trước ngày 01/7/2014 mức hỗ trợ bằng 40% giá đất cùng loại theo bảng giá đất do UBND tỉnh ban hành tương ứng với diện tích đất đang sử dụng. Từ đó, Hội đồng bồi thường hỗ trợ tái định cư huyện N đã áp giá hỗ trợ về đất cho bà Định mức 40% là đúng quy định và hỗ trợ khác đối với cây trồng theo quy định tại QĐ 40 ngày 18/12/2019 của UBND tỉnh C.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy quá trình xét xử cấp sơ thẩm không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; Về nội dung vụ án tuyên xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ là có cơ sở. Do đó, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị Đ về việc hủy bản án sơ thẩm. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên toà là phù hợp, nên chấp nhận.

Về chi phí tố tụng bà Đ phải chịu theo quy định của pháp luật; Về án phí sơ thẩm, phúc thẩm: Bà Vũ Thị Đ được miễn do là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Vũ Thị Đ. Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 08/2026/HC-ST ngày 31 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau.

Tuyên xử:

1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ về việc hủy:

- Quyết định số 1136/QĐ-UBND ngày 08/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ) về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Vũ Thị Đ.

- Quyết định giải quyết khiếu nại số 0805/QĐ-UBND ngày 29/8/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh C về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Vũ Thị Đ.

- Buộc Ủy ban nhân dân xã Đ thực hiện bồi thường cho bà Vũ Thị Đ toàn bộ diện tích 27.461,7m2 tại thửa đất số 8 tờ bản đồ số 01 tại ấp S, xã Đ, tỉnh Cà Mau gồm cây trồng, vật nuôi, vật kiến trúc gắn liền với đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại.

- Buộc Ủy ban nhân dân xã Đ thực hiện các chính sách hỗ trợ theo quy định pháp luật.

2. Về chi phí tố tụng: Bà Vũ Thị Đ phải chịu 1.000.000 đồng, bà Đ đã nộp và đối chiếu thanh toán xong.

3. Án phí hành chính sơ thẩm, phúc thẩm bà Vũ Thị Đ không phải chịu do là người cao tuổi.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ