- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp ts - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2025/HSST Ngày: 31-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GIA NGHĨA,TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lương Xuân Quyền;
- Ông Đinh Xuân Đông.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Thành - Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Hà Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/HS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 18a/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh ngày: 1997 tại tỉnh Hải Dương; số CCCD: 030097010592; nơi cư trú: Thôn 3, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 06/12; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn X và bà Bùi Thị N; chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 21/11/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng số: 1741/QĐ-UB, ngày 21/11/2012 (đã chấp hành xong); ngày 12/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số: 29/2017/HSST; đã chấp hành xong bản án và được xóa án tích; ngày 24/10/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa xử phạt 09 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số: 54/2018/HS-ST, đã chấp xong bản án và được xóa án tích. Ngày 24/9/2024, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ sau đó chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại Khu vực Gia Nghĩa, Trại tạm giam Công an tỉnh Đắk Nông - Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
Những người làm chứng:
- Anh Đồng Hữu H1; địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.
- Anh Trần Duy L; địa chỉ: Thôn 1, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 22/9/2024, Nguyễn Văn H đi bộ theo dọc đường tránh thành phố Gia Nghĩa hướng ra Quốc lộ 14, thuộc TDP T, phường Q, thành phố G, với mục đích đi tìm tài sản của người dân để trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi H đi vào 01 đường nhựa nhỏ được khoảng 03km thì phát hiện nhà của bà Nguyễn Thị H, cách đường nhựa khoảng 40m, xung quanh nhà không có ai. H trèo qua hàng rào lưới B40 phía bên trái (theo hướng nhìn từ ngoài vào) vào nhà bà H. Hiếu đi ra phía sau nhà, lấy 01 thanh sắt tròn, đường kính khoảng 02cm, dài khoảng 50cm; rồi tiếp tục đi đến cửa phía sau bên trái nhà, dùng thanh sắt bẻ, mở ổ khóa số. H đi vào phòng ngủ của nhà bà H, dùng tay giật bung ngăn kéo trên cùng bên trái (theo hướng người nhìn) của tủ nhựa, lục tìm thấy có một hộp nhựa, bên trong hộp có 03 túi vải màu đỏ và 03 tập tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam; bên trên nóc tủ nhựa có 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh. H lấy các tài sản gồm: “03 túi vải màu đỏ; 03 tập tiền; 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung”, tất cả để vào túi quần; H cầm theo thanh sắt rời khỏi nhà bà H. Khi H đi đến rẫy cà phê (cách nhà bà H khoảng 03km) thì mở 03 túi vải màu đỏ, phát hiện bên trong có chứa: “06 nhẫn kim loại màu vàng, 01 đôi bông tai và 01 chiếc bông tai kim loại màu vàng, 02 mặt dây chuyền kim loại màu vàng, 03 đôi bông tai kim loại màu trắng, 01 dây chuyền kim loại màu trắng, 01 mặt dây chuyền dạng đá màu xanh ngọc, 01 vật màu hồng hình dạng nanh heo”; H đếm 03 tập tiền mặt được 39.000.000 đồng. H để toàn bộ trang sức và tiền mặt vào túi áo trước ngực; ném chùm chìa khóa, 03 túi vải đỏ và 01 thanh sắt vào một gốc cây cà phê. H tiếp tục đi bộ thêm khoảng 500m thì kiểm tra điện thoại di động đã trộm của bà H có khóa màn hình, sợ bị định vị nên ném chiếc điện thoại vào một gốc cây cà phê. Sau đó, H đi bộ ra đường Quốc lộ 14, bắt xe đi về huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 22/9/2024, bà H đi về đến nhà thì phát hiện tài sản bị mất trộm nên đã trình báo Cơ quan CSĐT Công an thành phố Gia Nghĩa.
Chiều ngày 23/9/2024, H nhờ anh Đồng Hữu H1 bán 01 nhẫn kim loại màu vàng loại 9999, trọng lượng 01 chỉ. Anh H1 đã bán tại tiệm vàng Thảo Lân (do anh Trần Duy L, sinh năm: 1974, trú tại: thôn 2, xã Đắk Búk So, huyện Tuy Đức, làm chủ) được số tiền 7.900.000 đồng. H đã tiêu xài hết số tiền bán vàng và số tiền mặt 39.000.000 đồng đã chiếm đoạt của bà H. Đến ngày 24/9/2024, H bị Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Kết quả thử nghiệm số: 30092024/33-PNJL-TNV ngày 30/9/2024 của Công ty TNHH MTV Giám định PNJ, kết quả: “05 nhẫn kim loại màu vàng; 01 đôi bông tai và 01 chiếc bông tai kim loại màu vàng; 02 mặt dây chuyền kim loại màu vàng”, có hàm lượng vàng của từng mẫu từ 58.28 % đến 99.96%. Đối với: “03 đôi bông tai kim loại màu trắng; 01 dây chuyền kim loại màu trắng có mặt dây chuyền dạng đá màu xanh ngọc; 01 mặt dây chuyền dạng đá màu xanh ngọc; 01 vật màu hồng hình dạng nanh heo”, có hàm lượng vàng là 0%.
Kết luận định giá tài sản số: 36/KL-HĐĐG ngày 19/11/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự TP. Gia Nghĩa, đã kết luận: 02 nhẫn kim loại màu vàng, bên trong mặt nhẫn có ký hiệu 04 số 9999, có tổng khối lượng mẫu: 3,741 gram, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 22/9/2024 có giá trị 7.900.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số: 37/KL-HĐĐG ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự TP. Gia Nghĩa, đã kết luận: 01 nhẫn kim loại màu vàng, loại 9999, trọng lượng 01 chỉ (tài sản chưa thu giữ được), tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 22/9/2024 có giá trị 7.900.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số: 43/BB-HĐĐG ngày 30/12/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự TP. Gia Nghĩa, đã kết luận: 03 nhẫn kim loại màu vàng; 01 đôi bông tai và 01 chiếc bông tai kim loại màu vàng; 02 mặt dây chuyền kim loại màu vàng, có tổng khối lượng 8,4203 chỉ, tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 22/9/2024 có tổng giá trị 41.757.782 đồng. Các trang sức gồm: “03 đôi bông tai kim loại màu trắng; 01 dây chuyền kim loại màu trắng có mặt dây chuyền dạng đá màu xanh ngọc; 01 mặt dây chuyền dạng đá màu xanh ngọc; 01 vật màu hồng hình dạng nanh heo”, tại thời điểm ngày 22/9/2024, không xác được được giá trị.
Kết luận định giá tài sản số: 46/BB-HĐĐG ngày 15/01/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự TP. Gia Nghĩa, đã kết luận: 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Sam Sung Galaxy A20, màu xanh (tài sản chưa thu giữ được), tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 22/9/2024 có giá trị 1.200.000 đồng.
Như vậy, tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn H trộm cắp là 97.757.782 đồng.
Cáo trạng số: 22/CT-VKS-GN ngày 11-3-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa giữ nguyên quyết định truy tố. Sau khi phân tích nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H, phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 năm 06 tháng – 04 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 BLHS và khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
Chấp nhận ngày 23/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa đã trả lại cho bà Nguyễn Thị H, là chủ sở hữu hợp pháp của các tài sản: 05 nhẫn kim loại màu vàng; 01 đôi bông tai và 01 chiếc bông tai kim loại màu vàng; 02 mặt dây chuyền kim loại màu vàng; 03 đôi bông tai kim loại màu trắng; 01 dây chuyền kim loại màu trắng có 01 mặt dây chuyền dạng đá màu xanh ngọc; 01 mặt dây chuyền dạng đá màu xanh ngọc; 01 vật màu hồng hình dạng nanh heo; 01 ổ khóa số màu đỏ.
Chấp nhận ngày 24/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa đã trả lại cho Nguyễn Văn H: 01 nhẫn kim loại màu trắng, trên mặt nhẫn có đính 01 viên đá màu đỏ và 01 nhẫn kim loại màu trắng, trên mặt nhẫn có hình trái tim, là chủ sở hữu hợp pháp và không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả cho Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh, và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi Note 11, màu đen, là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn H và không liên quan đến hành vi phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 589 của Bộ lật tố tụng dân sự buộc Nguyễn Văn H bồi thường 48.900.000 đồng, trong đó: 39.000.000 đồng tiền mặt bị chiếm đoạt; 9.900.000 đồng là giá trị của 01 điện thoại di động và 01 nhẫn vàng chưa thu hồi được.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đăk Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, xét thấy lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với những tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ ngày 22/9/2024, tại TDP T, phường Q, thành phố G, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Văn H đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản gồm: 39.000.000 đồng, 01 điện thoại di động và 10 đồ trang sức bằng vàng, của bà Nguyễn Thị H. Tổng giá trị tài sản H đã trộm cắp của bà H là: 97.757.782 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: …
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: …
c) Chiếm đoạt tài sản sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; …
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu: ngày 21/11/2012, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đưa vào trường giáo dưỡng số: 1741/QĐ-UB, ngày 21/11/2012 (đã chấp hành xong); ngày 12/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản, theo Bản án số: 29/2017/HSST; đã chấp hành xong bản án (được xóa án tích) và ngày 24/10/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa xử phạt 09 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, theo Bản án số: 54/2018/HS-ST, đã chấp xong bản án (được xóa án tích). Do đó cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 585, 589 của Bộ lật tố tụng dân sự buộc Nguyễn Văn H bồi thường 48.900.000 đồng, trong đó: 39.000.000 đồng tiền mặt bị chiếm đoạt; 9.900.000 đồng là giá trị của 01 điện thoại di động và 01 nhẫn vàng chưa thu hồi được.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 BLHS và khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Chấp nhận ngày 23/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa đã trả lại cho bà Nguyễn Thị H, là chủ sở hữu hợp pháp của các tài sản: 05 nhẫn kim loại màu vàng; 01 đôi bông tai và 01 chiếc bông tai kim loại màu vàng; 02 mặt dây chuyền kim loại màu vàng; 03 đôi bông tai kim loại màu trắng; 01 dây chuyền kim loại màu trắng có 01 mặt dây chuyền dạng đá màu xanh ngọc; 01 mặt dây chuyền dạng đá màu xanh ngọc; 01 vật màu hồng hình dạng nanh heo; 01 ổ khóa số màu đỏ (có đặc điểm như đã nêu ở trên).
- Chấp nhận ngày 24/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa đã trả lại cho Nguyễn Văn H: 01 nhẫn kim loại màu trắng, trên mặt nhẫn có đính 01 viên đá màu đỏ và 01 nhẫn kim loại màu trắng, trên mặt nhẫn có hình trái tim, là chủ sở hữu hợp pháp và không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả cho Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh, và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi Note 11, màu đen, là tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn H và không liên quan đến hành vi phạm tội.
Nội dung liên quan khác:
- Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa đã trưng cầu giám định, định giá tài sản là các viên đá được gắn trên các trang sức mà Nguyễn Văn H đã trộm của bà Nguyễn Thị H. Tại Công văn số CV23V/2024PNJLAB ngày 21/11/2024 của Công ty TNHH MTV Giám định PNJ, trả lời: Công ty chỉ thử nghiệm chất lượng của đá rời, chưa thử nghiệm chất lượng đá gắn trên nữ trang. Kết quả định giá của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự TP. Gia Nghĩa: không xác định giá trị. Quá trình làm việc, bà H không đồng ý cho Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa tiến hành tháo gỡ các mặt đá được gắn trên các trang sức; bà H xác định tất cả các số đá được gắn trên trang sức đều không rõ nguồn gốc, chủng loại và không có giá trị nên không cần giám định, định giá. Do đó, không có căn cứ để tiếp tục trưng cầu định giá.
- Cơ quan CSĐT Công an TP. Gia Nghĩa đã trưng cầu giám định và định giá các tài sản H đã trộm cắp của bà H gồm: 03 đôi bông tai kim loại màu trắng; 01 dây chuyền kim loại màu trắng có mặt dây chuyền dạng đá màu xanh ngọc; 01 mặt dây chuyền dạng đá màu xanh ngọc; 01 vật màu hồng hình dạng nanh heo. Kết quả giám định những tài sản này có hàm lượng vàng là 0%; tại Công văn số 577 ngày 16/10/2024 và số 681 ngày 28/11/2024 của Công ty Cổ phần Vàng bạc đá quý Phú Nhuận, xác định những tài sản này không có giá trị; kết quả định giá của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự TP. Gia Nghĩa, kết luận: tại thời điểm ngày 22/9/2024, không xác định giá trị. Quá trình điều tra, bà H xác định những tài sản này là hàng mỹ ký, mua ở chợ, không có giá trị nên bà không yêu cầu định giá. Do đó, không có căn cứ để tiếp tục trưng cầu định giá.
- Đối với anh Đồng Hữu H1 là người bán 01 nhẫn vàng tại tiệm vàng Thảo Lân, do anh Trần Duy L làm chủ. Kết quả điều tra xác định: Anh H1 và ông L đều không biết nguồn gốc của nhẫn vàng và không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản của H. Do đó, không có căn cứ để xử lý hình sự đối với tội danh: Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/9/2024.
2. Căn cứ Điều 584, 585, 589 của Bộ lật tố tụng dân sự buộc Nguyễn Văn H bồi thường cho bà Nguyễn Thị H 48.900.000 đồng, trong đó: 39.000.000 đồng tiền mặt bị chiếm đoạt; 9.900.000 đồng là giá trị của 01 điện thoại di động và 01 nhẫn vàng chưa thu hồi được.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 BLHS và khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Trả cho Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung Galaxy A12, màu xanh, và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi Note 11, màu đen.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Gia Nghĩa với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gia Nghĩa).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.445.000đ (Hai triệu bốn trăm bốn mươi lăm nghìn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - VKSND thành phố Gia Nghĩa; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV06, PC10 Công an tỉnh Đắk Nông; - Cơ quan THAHS Công an Tp Gia Nghĩa; - Cơ quan CSĐT Công an Tp Gia Nghĩa; - Chi cục THADS thành phố Gia Nghĩa; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn phòng. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thị Ngọc THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Ngọc |