vanban.org

Bản án 14/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 18/09/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Đ3 “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Đ4 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/4/2025. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng Đ "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Đ3 “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình s…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2025/HS -ST
Ngày: 18 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hựu.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Thanh Minh.

Ông Danh Văn Hoàng.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hoàng, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Vũ Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 9 năm 2025 đối với:

- Bị cáo Nguyễn Trọng Đ, sinh ngày: 01/01/1993; tại huyện T, tỉnh Long An (nay là xã H, tỉnh Tây Ninh); Nơi cư trú: Ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp L, xã H, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Huỳnh Thị H; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án: Tại Bản án số 30/2023/HS-ST ngày 13/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/8/2024; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 13/5/2010 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T Quyết định số 549/QĐ-UB-NC về việc đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 30/11/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 21/9/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 20/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 14/01/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành Phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 26/01/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Hưng, tỉnh Long An xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/4/2025 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Chị Trần Thị Thanh T, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Ấp C, xã V, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)

2. Chị Nguyễn Thị Kim D: 2005; Ấp V, xã V, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1955; Địa chỉ: Ấp L, xã H, tỉnh Tây Ninh (có mặt)

- Người làm chứng:

1. Bà Lê Thị K, sinh năm: 1963; Địa chỉ: Ấp C, xã V, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)

2. Ông Nguyễn Văn H1: 1984; Địa chỉ: Ấp V, xã V, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/4/2025, Nguyễn T1 Đ2khiển xe mô tô màu trắng, nhãn hiệu FUTURE, biển số: 62C1-178.13, đi từ nhà tại ấp L, xã H, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp L, xã H, tỉnh Tây NinhKhoảng 05 giờ 30 phút cùng này, Đđến khu vực tuyến dân cư ấp C, xã V, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp C, xã V, tỉnh Tây Ninhthấy nhà chị Trần Thị Thanh T2: 1992 không đóng cửa, chỉ có 01 bé gái khoảng 05 - 06 tuổi đang nằm chơi điện thoại, không có người lớn trông giữ nên Đdừng xe lại trước cửa nhà, đi vào trong đến tủ bằng nhựa tại lối đi cạnh phòng ngủ, kéo ngăn tủ trên cùng bên phải, lấy trộm cọc tiền lẽ gồm nhiều tờ tiền các mệnh giá 1.000 đồng, 2.000 đồng, 5.000 đồng (sau khi phát hiện kiểm điếm là 240.000 đồng), bỏ vào trong áo trước bụng, đi đến chỗ đậu xe, bỏ cọc tiền vào cốp xe mô tô, rồi tiếp tục đi về hướng Ủy ban nhân dân xã V (nay là xã V, tỉnh Tây NinhĐến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Trọng Đ3quán nước giải khát của chị Nguyễn Thị Kim D: 2005, thuộc ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Long An ( nay là ấp V, xã V, tỉnh Tây Ninhthấy không có người trông giữ tài sản nên dừng xe cặp lề đường tỉnh 819, cách quán nước giải khát khoảng 30 mét, đi vào lấy trộm một túi xách bằng da màu xanh đen, sọc đỏ, treo trên xe nước mía, gồm nhiều tờ tiền mệnh giá từ 10.000 đồng đến 500.000 đồng (sau khi phát hiện kiểm đếm là 3.812.000 đồng), bỏ vào cốp xe mô tô, rồi điều khiển xe đi. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Trọng Đ4Công an xã Đ(nay là Công an xã Đ cùng tang vật, bàn giao cho Công an xã V(nay là Công an xã V xử lý theo thẩm quyền.

Trong quá trính điều tra, phát hiện Nguyễn T2Đ2bị Toà án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” vào ngày 13/6/2023, đến ngày 08/8/2024 Đ2chấp hành xong hình phạt tù, nên lần phạm tội này Nguyễn T1 Đ5trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng là “ tái phạm”.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ltiến hành thu giữ, tài liệu đồ vật gồm:

- 01 xe mô tô FUTURE FI, màu trắng nâu đen, nhãn hiệu: Honda, biển số 62C1-187.13 số máy: JC90E0000355, số khung: RLHJC7659LY000768.

- 01 túi xách bằng da màu xanh đen sọc đỏ; 01 túi xách màu da bò; 01 ví màu đen; 02 điện thoại di động đã qua sử dụng gồm 01 điện thoại hiệu Samsung và 01 điện thoại Redmi; Số tiền Việt Nam: 11.608.000đ (Mười một triệu sáu trăm lẻ tám nghìn đồng) .

- 01 áo thun cổ tròn dài tay màu xanh phía trên ngực áo bên trái có chữ adidas, trên chữ adidas có biểu tượng hình tam giác màu trắng gồm 03 hình ráp lại; 01 quần Jeans màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 đôi dép quai kẹp màu đen;

- 03 đoạn video ghi lại quá trình phạm tội Nguyễn Trọng Đ2 tập tin video có tên: “Trom - Duc TL 01 phut 13 giay”, mã SHA-1: “144ECFBA 68DC6B2F35A62DC71B0AE002F471267A” (ký hiệu A1); 01 tập tin video có tên:

“Trom

-

Duc

TL

04

giay”,

mã

SHA-1: “144ECFBA68DC6B2F35A62DC71 B0AE002F471267A” (ký hiệu A2); 01 tập tin video có tên: “Trom-Duc TL 18 giay”, mã SHA-1: “EB2D82CE3E8E92383EED8E01BCE565D054008A07” (ký hiệu A3).

Ngày 17/6/2025, Phân V hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh có bản kết luận giám định số: 2686/KL-KTHS kết luận: không tìm thấy dấu vết cắt, ghép, chỉnh sửa trong 03 tập tin video ký hiệu từ A1 đến A3.

Ngày 15/7/2025 và 16/7/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L (nay là Công an tỉnh T lại cho Nguyễn Thị Kim D1tiền 3.812.000 đồng, 01 túi xách bằng da màu xanh đen, sọc đỏ (đã qua sử dụng); trả lại cho Trần Thị Thanh T3tiền 240.000 đồng; trả lại cho N mô tô hiệu FUTURE FI, màu trắng nâu đen, nhãn hiệu Honda, biển số: 62C1-187.13, số máy: JC90E0000355, số khung: RLHJC7659LY000768 (đã qua sử dụng); trả lại cho Nguyễn Trọng Đ8tiền 7.556.000 đồng; 01 ví da màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và 01 điện thoại hiệu Redmi (đã qua sử dụng).

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSKV9 ngày 14/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Tây Ninh đã truy tố Nguyễn Trọng Đ về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng với nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

Người bị hại chị Trần Thị Thanh T xác định ngày 22/4/2025 phát hiện mất cọc tiền khoảng 240.000 đồng, gồm nhiều loại tiền tờ 1.000 đồng, 2.000 đồng và 5.000 đồng, được bà K1hàng xóm thông báo có thấy 01 thanh niên đi vào nhà, nên có điện thoại báo Công an xã V(nay là xã V. Nay đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường.

Người bị hại chị Nguyễn Thị Kim D1: Ngày 22/4/2025 có mở cửa để mua bán quán giải khát, có treo túi sách có số tiền khoảng 3.800.000 đồng trên xe nước mía, chị đi ra phía sau nhà rồi trở ra thì phát hiện mất túi sách, chị mở camera thì phát hiện có người thanh niên vào lấy nên báo Công an xã V(nay là xã V lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày: 22/4/2025, N1 dụng xe mô tô màu trắng, nhãn hiệu FUTURE, biển số: 62C1-178.13 là của ông, việc Đ dùng xe mô tô đi trộm cắp là ông không biết. Nay ông đã nhận lại xe và không có ý kiến gì.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trọng Đ. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, các Điều 38, 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Trọng Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giam 26/4/2025.

- Về phần xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun cổ tròn dài tay màu xanh phía trên ngực áo bên trái có chữ adidas trên chữ adidas có biểu tượng hình tam giác màu trắng gồm 03 hình ráp lại; 01 quần Jeans màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 đôi dép quai kẹp màu đen do bị cáo từ chối nhận lại và không còn giá trị sử dụng.

- Về bồi thường thiệt hại: Trong quá trình điều tra, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản. Nay bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bổ sung nên không đề cập xem xét.

- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ, do bị cáo làm thuê, thu nhập không ổn định.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và tỏ thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sựQuá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo: Vào khoảng 05 giờ 30 phút, ngày 22/4/2025, Nguyễn T1 Đ2khiển xe mô tô đến khu vực tuyến dân cư ấp C, xã V, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp C, xã V, tỉnh Tây Ninh thấy nhà của chị Trần Thị Thanh T3 người ở nhà, nên Đ10vào trộm cắp của chị Trần Thị Thanh T4 240.000 đồng. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Trọng Đ đi đến quán nước giải khát cặp đường tỉnh 819, thuộc ấp V, xã V, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp V, xã V, tỉnh Tây Ninh thấy không có người giữ quán, Đ tiếp tục trộm cắp của chị Nguyễn Thị Kim D2: 3.812.000 đồng, rồi Đ10về hướng Thành Phố Hồ Chí Minh. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Trọng Đ4Công an xã Đ(nay là Công an xã Đ hành chính phát hiện, bắt giữ cùng tang vật, bàn giao cho Công an xã V(nay là Công an xã V xử lý theo thẩm quyền.

Hành vi của Nguyễn Trọng Đ11cắp tài sản của T6 là 4.025.000 đồng, đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

Tính chất phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm hại quyền sở hữu của người khác về tài sản. Đồng thời, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo Đ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về nhân thân của bị cáo Đ901 tiền án, tại Bản án số 30/2023/HS-ST ngày 13/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/8/2024, đến ngày phạm tội lần này chưa được xóa án tích. Do đó, Nguyễn T5 bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm; bị cáo không có tiền sự, nhưng về nhân thân của bị cáo có nhiều lần bị Tòa án nhân dân xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phạm tội đã thật thà khai báo ăn năn hối cải và gia đình của bị cáo có công với Cách mạng, cần xem xét khi quyết định hình phạt.

Về bồi thường thiệt hại: Người bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã nhận lại đủ tài sản, không có yêu cầu bồi thường bổ sung. Nay không đề cập xem xét.

Về vấn đề liên quan vụ án:

Bị cáo Nguyễn Trọng Đ sử dụng 01 xe mô tô màu trắng, nhãn hiệu FUTURE, biển số: 62C1-178.1301 là của ông Nguyễn Văn Đ1 nhưng ông Đ1 không biết và không có thỏa thuận hay bàn bạc với bị cáo Đ nên Cơ quan điều tra không xem xét. Nay không đề cập đến.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Đ làm thuê, thu nhập không ổn định và không có tài sản. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T7 đã xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thị Kim D2 3.812.000 đồng và 01 túi sách bằng da màu xanh đen sọc đỏ; trả lại cho chị Trần Thị Thanh T4 240.000 đồng là phù hợp theo quy định, nên không đề cập đến.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T vật chứng trả lại chiếc xe mô tô biển số 62C1 – 187.13 cho ông Nguyễn Văn Đ1 là phù hợp theo quy định, nên không đề cập đến.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T vật chứng trả lại cho Nguyễn Trọng Đ8tiền 7.556.000 đồng; 01 túi sách da bò và 01 ví da màu đen; 02 điện thoại di động ( 01 điện thoại hiệu Samsung và 01 điện thoại thoại hiệu Redmi) là phù hợp theo quy định, nên không đề cập đến.

Đối với 01 áo thun cổ tròn dài tay màu xanh phía trên ngực áo bên trái có chữ adidas trên chữ adidas có biểu tượng hình tam giác màu trắng gồm 03 hình ráp lại; 01 quần Jeans màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 đôi dép quai kẹp màu đen, do bị cáo không có nhu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 03 đoạn video ghi lại quá trình phạm tội Nguyễn Trọng Đ2 tập tin video có tên: “Trom - Duc TL 01 phut 13 giay”, mã SHA-1: “144ECFBA 68DC6B2F35A62DC71B0AE002F471 267A” (ký hiệu A1); 01 tập tin video có tên: “Trom - Duc TL 04 giay”, mã SHA-1: “144ECFBA68DC6B2 F35A62DC71B0AE002F471267A” (ký hiệu A2); 01 tập tin video có tên: “Trom-Duc TL 18 giay”, mã SHA-1: “EB2D82CE3E8E923 83EED8E01BCE565D054 008A07” (ký hiệu A3) cần tiếp tục lưu giữ kèm hồ sơ vụ án, nay không đề cập.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo Nguyễn Trọng Đ phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng hình sự số 99/2025/ QH15 ngày 27/6/2025;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng Đ3 “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Đ4 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/4/2025.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Trọng Đ14hạn tạm giam 45 ngày, kể từ ngày 18/9/2025 để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 áo thun cổ tròn dài tay màu xanh phía trên ngực áo bên trái có chữ adidas trên chữ adidas có biểu tượng hình tam giác màu trắng gồm 03 hình ráp lại; 01 quần Jeans màu xanh đen; 01 nón bảo hiểm màu xám; 01 đôi dép quai kẹp màu đen (đã qua sử dụng).

(Vật chứng do Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Tây Ninh quản lý)

4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Nguyễn Trọng Đ15chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. 5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ