- Tranh chấp gì? án hình sự — "Mụ Văn Th - phạm tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (điều 146 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 146 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày 23 - 9 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Hữu San
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nông Thị Sinh – Nguyên giáo viên nghỉ hưu
Ông Lương Quang Toán – Cán bộ nghỉ hưu
- Thư ký phiên toà: Bà Duy Minh Hà – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Bàn Văn Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Tuyên Quang mở phiên tòa sơ thẩm xét xử kín theo hình thức số hóa vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS, ngày 04/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS, ngày 09/9/2025 đối với bị cáo:
Mụ Văn Th, sinh ngày 20/8/1984 tại tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn N, xã L, tỉnh Tuyên Quang; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Mụ Văn Tạ, sinh năm 1955 và bà Đặng Thị Ơn (đã chết); vợ: Nông Thị Hảo, sinh năm 1989; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2020; tiền án: Không.
Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1551/QĐ – XPHC, ngày 09/10/2024, bị Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 12.500.000đ về hành vi Tàng trữ trái phép các loại vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự súng săn (bị cáo chưa chấp hành nộp phạt).
Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 019774, ngày 05/9/2005 bị Công an huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 150.000đ về hành vi trộm cắp vặt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Cháu Triệu Thảo Nh, sinh ngày 07/8/2013; địa chỉ: Thôn N, xã L, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Triệu Thị X, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn B, xã L, tỉnh Tuyên Quang – Là bác ruột của cháu Triệu Thị Nhi (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Lại Khoa L – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước số 1 tỉnh Tuyên Quang; địa chỉ: Số 6 đường Chiến Thắng Sông Lô, phường X, tỉnh Tuyên Quang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 20/4/2025, Mụ Văn Th đi đến nhà ông Triệu Việt B, sinh năm 1979 trú tại thôn N, xã L, tỉnh Tuyên Quang (cùng thôn với Th) để uống rượu cùng ông B và một số người khác. Th uống rượu đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì đi về. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Th cùng với Nguyễn Văn C, sinh năm 1980 (trú cùng thôn) quay lại nhà ông B nhưng do ông B không có nhà nên C đi về trước, còn Th đi bộ ra phía sau nhà ông Triệu Văn M, sinh năm 1973, trú tại thôn N, xã L, huyện B, tỉnh Tuyên Quang để chơi. Th đẩy cửa bếp đi vào trong nhà ông M, khi vào đến gian nhà chính Th nhìn thấy cháu Triệu Thảo Nh, sinh ngày 07/8/2013 (là con gái ruột của ông M) đang nằm ngủ trên giường kê sát vách nhà, đối diện cửa chính. Cháu Nh đang mặc áo phông và quần dài, nằm nghiêng sang phải hướng ra ngoài cửa nhà. Thấy vậy Th đi đến cạnh giường cháu Nh đang ngủ dùng tay phải lần lượt sờ vào đùi, bộ phận sinh dục, bụng và ngực của cháu Nh qua lớp ngoài bộ quần áo cháu Nh đang mặc, mục đích để thoả mãn nhu cầu tình dục của Th nhưng không nhằm mục đích quan hệ tình dục. Khi Th đang thực hiện hành vi thì cháu Nh tỉnh giấc, la hét bỏ chạy ra ngoài, Th đi theo sau ra ngoài rồi lấy xe mô tô đi về nhà. Đến ngày 22/4/2025, chị Triệu Minh X, sinh năm 2002 (là chị gái ruột của cháu Nh) biết việc nên đã làm đơn tố cáo hành vi của Th đến Cơ quan Công an.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang đã thu thập bản sao Giấy khai sinh của cháu Triệu Thảo Nh, xác định cháu Nh sinh ngày 07/8/2013. Tại thời điểm Mụ Văn Th thực hiện hành vi dâm ô cháu Triệu Thảo Nh có độ tuổi 11 tuổi 08 tháng 13 ngày.
Tại bản Cáo trạng số 06/CT-VKSKV3, ngày 04/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Mụ Văn Th về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Mụ Văn Th theo tội danh, điều luật đã nêu trong Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Mụ Văn Th phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 146; các điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Mụ Văn Th từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Mụ Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và phiên tòa, bị cáo Mụ Văn Th khai nhận: Sáng ngày 20/4/2025, bị cáo uống rượu tại nhà của ông Triệu Việt B ở cùng thôn và bị say nên bị cáo về trước. Đến trưa ngày 20/4/2025 bị cáo đi xe máy cùng anh Nguyễn Văn C để đến nhà ông B để chơi tiếp nhưng do ông B không có ở nhà nên anh C đi về trước. Còn bị cáo ở lại sau đó tự ý đi vào nhà ông Triệu Văn M để chơi thì phát hiện cháu Triệu Thảo Nh là con gái ông M đang nằm ngủ ở giường kê sát vách nhà, đối diện cửa chính. Do đã say rượu, không làm chủ được bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi dùng tay phải sờ vào đùi, bộ phận sinh dục, bụng và ngực của cháu Nh nhằm mục đích để thỏa mãn nhu cầu tình dục của bản thân nhưng không nhằm mục đích giao cấu với cháu Nh. Sau khi bị bị cáo thực hiện hành vi dâm ô, cháu Nh tỉnh giấc phát hiện và thông báo lại cho gia đình biết, gia đình cháu Nh đã làm đơn tố cáo hành vi của bị cáo với cơ quan Công an. Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã tự nguyện bồi thường cho cháu Nh số tiền 5.000.000đ để khắc phục hậu quả. Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình đã gây ra.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại bà Triệu Thị X trình bày: Bà là bác ruột của cháu Triệu Thảo Nh, sinh ngày 07/8/2013. Trưa ngày 20/4/2025, khi cháu Nh đang nằm ngủ một mình ở nhà thì bị bị cáo Mụ Văn Th thực hiện hành vi dâm ô khiến cho cháu Nh bị hoảng loạn về tinh thần. Sau khi sự việc xảy ra gia đình bà đã làm đơn tố cáo hành vi của bị cáo Th với cơ quan Công an. Quá trình điều tra bị cáo Th đã thỏa thuận và bồi thường xong cho cháu Nh số tiền 5.000.000đ nên với tư cách là người đại diện hợp pháp bà không yêu cầu bị cáo Mụ Văn Th phải bồi thường gì thêm cho cháu Nh. Về hành vi phạm tội của bị cáo Mụ Văn Th, bà đề nghị Hội đồng xét xử xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại nhất trí với tội danh, điều luật mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo Mụ Văn Th. Hành vi của bị cáo Mụ Văn Th đã xâm hại thân thể, nhân phẩm, danh dự và gây nên sự hoảng loạn về tinh thần, ảnh hưởng đến sự phát triển tâm sinh lý của cháu Triệu Thảo Nh. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hành phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Th để răn đe đối với bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về việc xem xét hành vi của bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mụ Văn Th đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang đã truy tố đối với bị cáo. Ngoài lời khai nhận của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo Mụ Văn Th còn được chứng minh bằng Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản thực nghiệm điều tra; lời khai của bị hại và toàn bộ các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ, do đó có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 20/4/2025, tại nhà ở của ông Triệu Văn M, trú tại thôn N, xã L, huyện B, tỉnh Tuyên Quang (nay là thôn N, xã L, tỉnh Tuyên Quang), Mụ Văn Th đã có hành vi dùng tay phải sờ vào đùi, bộ phận sinh dục, bụng và ngực cháu Triệu Thảo Nh, sinh ngày 07/8/2013 (tại thời điểm thực hiện hành vi cháu Nh có độ tuổi 11 tuổi 08 tháng 13 ngày) để nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu tình dục của Th mà không nhằm mục đích giao cấu và không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác đối với cháu Triệu Thảo Nh.
Hành vi của bị cáo Mụ Văn Th đã phạm vào tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Tuyên Quang truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật hình sự, xâm phạm quyền được bảo vệ về thân thể, nhân phẩm, danh dự và quyền được giáo dục, vui chơi, phát triển lành mạnh của người dưới 16 tuổi. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam tương xứng với mức độ, tính chất phạm tội để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời góp phần vào công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả; bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số nên khả năng nhận thức pháp luật một phần còn bị hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng đối với bị cáo để quyết định mức án cho phù hợp.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về phần dân sự:
Quá trình điều tra, bị Mụ Văn Th đã thỏa thuận và bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000đ. Tại phiên tòa, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Bị cáo Mụ Văn Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Mụ Văn Th phạm tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
1. Về hình phạt:
- Áp dụng khoản 1 Điều 146; các điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Mụ Văn Th 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Mụ Văn Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại được kháng cáo phần bản án hoặc quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND khu vực 3 – Tuyên Quang; - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Tuyên Quang; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Tuyên Quang; - Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang; - Bị cáo; - Bị hại; - Người BVQLIHP của bị hại; - Sở Tư pháp Tuyên Quang; - Lưu HSVA, HSTHAHS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Hữu San |