vanban.org

Bản án 14/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Lương Chí P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2]. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Lương Chí P 05 năm 06 tháng tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/7/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bi cao Luong Ch P pham toi co y gay thuong tich - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Lương Chí P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HS-ST
Ngày: 26 - 9 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bế Văn Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Tha Mlô và bà Trần Thị Thanh Thẩm

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Tường Vy – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Chí P, sinh năm1998, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn D, xã C, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Là Đảng viên Đ; Con ông Lương Văn M và con bà Nguyễn Thị T. Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 15/7/2025. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Buôn Ma T1, Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Đ cho đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Nông Thị S, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Thôn D, xã C, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt);

- Người làm chứng: Ông Lương Xuân M1, sinh năm 1968.

Địa chỉ: Thôn D, xã C, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 18/3/2025, sau khi dẫn đàn trâu của gia đình đi ăn thì bà Nông Thị S lùa đàn trâu về nhà, có đi ngang qua đất vườn nhà Lương Chí P. Do đất vườn nhà P không có hàng rào nên đàn trâu của bà S đã đi vào đất vườn nhà P để uống nước dưới ao. Trước đó, P đã nhiều lần nhắc nhở bà S về việc không được chăn, thả trâu vào đất vườn nhà P nên khi thấy đàn trâu của bà S tiếp tục vào uống nước, P đã nhắc nhở, yêu cầu bà S dẫn đàn trâu đi thì bà S nói “mày làm gì được tao, mày giết trâu của tao được à”. Nghe vậy P chạy ra, vừa quơ tay vừa hô “xì xì” để đuổi trâu đi thì bà S dùng búa đóng đinh đang cầm trên tay chỉ vào P và làm động tác dọa đánh, sau đó quay người đi theo đàn trâu. Hành động của bà S làm P bực tức nên P chạy đến bờ ao nhổ một 01 gậy gỗ chiều dài 83cm, kích thước bản rộng nhất 5,5cm, một đầu nhọn, cầm bằng hai tay rồi đuổi theo bà S và đánh một cái theo hướng từ phải sang trái, trúng vào vùng mặt phải của bà S. Sau đó P cầm gậy gỗ đi lên nhà còn bà S bị thương tích, được người nhà đưa đến Bệnh viện Đ1 để điều trị.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 290/KLTTCT-PY ngày 21/4/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương trên cơ thể bà Nông Thị S là 38%. Vật tác động: Vật tày, cứng, có cạnh. Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương để lại sẹo nằm hơi chéo vùng gò má phải, bờ nham nhở; Vết thương để lại sẹo nằm hơi chéo vùng má phải, bờ nham nhở; Gãy cung tiếp gò má phải, thành ổ mắt phải; Gãy xương bướm phải; Gãy xương mũi, vách ngăn mũi, xương khẩu cái; Gãy các thành xoang hàm phải; Gãy xương hàm trên bên phải; Gãy mõm vẹt xương hàm dưới bên phải là do tác động trực tiếp của vật tày, cứng, có cạnh hướng từ phải qua trái.

Bản Cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 truy tố bị cáo Lương Chí P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về phần dân sự, bị hại yêu cầu bồi thường 175.195.408đ là quá cao bị cáo không có đủ khả năng bồi thường, hơn nữa do bị hại sai trước nên bị cáo mới đánh.

Bị hại Nông Thị S tranh luận: Đề nghị HĐXX xét xử nghiêm đối với bị cáo, đồng thời buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 171.516.408đ theo đơn yêu cầu bồi thường đã nộp và giấy bổ sung bồi thường ngày 22/9/2025 là 3.679.000đ.

Tổng cộng, 175.195.408đ. (Một trăm bảy mươi lăm triệu, một trăm chín mươi lăm ngàn, bốn trăm linh tám đồng).

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lương Chí P như nội dung cáo trạng đã truy tố. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lương Chí P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Lương Chí P từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù giam.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tạm giữ 01 gậy gỗ chiều dài 83cm, kích thước bản rộng nhất 5,5cm, một đầu nhọn. Đây là hung khí P sử dụng để gây án, không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Về phần dân sự của vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 584, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Nông Thị S theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì thêm, chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Về nội dung:

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. HĐXX xét thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để khẳng định hành vi của bị cáo Lương Chí P phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

…

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

…

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

Vận dụng điều luật nêu trên đối chiếu với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt sao cho thỏa đáng để vừa đề cao được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời qua đó giáo dục riêng, răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Xét tính chất hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến sức khoẻ của bị hại, ngoài ra còn làm ảnh hưởng đến trật tự tại địa phương.

Xét về ý thức: Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, là người có đầy đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận thức được sức khỏe của người khác là vốn quý được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm hại sức khỏe của người khác trái pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh. Tuy nhiên, xuất phát từ ý thức xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống bị cáo đã cầm một cây gỗ dài 83cm, rộng 5,5cm, là hung khí nguy hiểm đánh vào mặt phải của bà S, theo hướng từ phải sang trái, hậu quả là bà S bị thương tích 38%.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, dó đó HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ “bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi của mình. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số, bị cáo có thời gian đi nghĩa vụ quân sự, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX cần áp dụng khi xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Về phía bị hại, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại thừa nhận có để trâu vào vườn nhà bị cáo, có lời qua tiếng lại với bị cáo, khi được bị cáo nhắc nhở thì bà S còn thách thức và cầm búa chỉ vào mặt bị cáo, do vậy HĐXX xác định nguyên nhân vụ việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Từ lúc xảy ra vụ việc, bị cáo chưa bồi thường khoản nào cho bị hại. Tại phiên tòa, các bên không thỏa thuận được số tiền bồi thường. Do đó HĐXX cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại các khoản theo quy định pháp luật, cụ thể:

+ Tiền viện phí từ ngày 18/3/2025 đến ngày 25/3/2025 theo hóa đơn ngày 25/3/2025 là: 10.216.408đ và chi phí tái khám theo hóa đơn ngày 01/4/2025 là: 211.000.đ;

+ Tiền chi phí đi lại, bị hại yêu cầu 5.000.000đ là không phù hợp với chi phí đi lại tại địa phương nên cần tính lại: Xe chở bị hại từ xã C đi Bệnh viện Đ1 và đi tái khám là 02 lượt đi và về: 01 lượt là 1.000.000đ x 2 lần = 2.000.000đ;

+ Tiền bồi dưỡng sức khỏe: Căn cứ Điều 7 Nghị quyết 02/2022NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 được tính theo ngày lương tối thiểu vùng tại nơi khám bệnh, trên tổng số ngày nằm viện là 07 ngày x 148.000đ (Lương tối thiểu vùng) = 1.036.000đ; Chi phí cho việc phục hồi sức khỏe, chức năng bị mất: 3.000.000đ. Tổng số tiền bồi dưỡng hồi phục sức khỏe: 4.036.000đ.

+ Tiền thu nhập bị mất của bị hại, do bị hại làm nông, không thu nhập từ lương, nên HĐXX tính theo thu nhập trung bình tại địa phương là 250.000đ/ngày x 07 ngày = 1.750.000đ;

+ Chi phí cho người chăm sóc, bị hại yêu cầu tính 02 người chăm sóc là không đúng thực tế, HĐXX tính tiền chi phí cho người chăm sóc 01 người là: 250.000đ/ngày x 07 ngày = 1.750.000đ;

+ Tiền tổn thất tinh thần, theo yêu cầu của bị hại là 150.000.000đ là không đúng quy định của pháp luật nên HĐXX tính lại: Mức lương cơ sơ 2.340.000đ x 19 lần = 44.460.000đ;

Tổng cộng: 64.423.000đ. (Sáu mươi bốn triệu, bốn trăm hai mươi ba ngàn đồng).

Đối với yêu cầu tính chi phí tiền ăn uống của bị hại và người chăm sóc là không đúng theo quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại sức khỏe nên HĐXX không chấp nhận. Đối với giấy ra viện ngày 15/9/2025 tại Trung tâm Y tế C, chẩn đoán bị hại bị trào ngược dạ dày, tăng huyết áp, chóng mặt, do không liên quan đến thương tích mà bị cáo gây ra nên HĐXX không chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 gậy gỗ chiều dài 83cm, kích thước bản rộng nhất 5,5cm, một đầu nhọn. Đây là hung khí bị cáo P sử dụng để gây án, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật và án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền bồi thường 64.423.000đ x 5% = 3.221.000đ (Ba triệu hai trăm hai mươi mốt ngàn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Lương Chí P phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

[2]. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lương Chí P 05 năm 06 tháng tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 15/7/2025.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự; Điều 7 Nghị quyết 02/2022NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

Buộc bị cáo Lương Chí P phải bồi thường cho bị hại Nông Thị S số tiền 64.423.000đ. (Sáu mươi bốn triệu bốn trăm hai mươi ba ngàn đồng).

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 gậy gỗ chiều dài 83cm, kích thước bản rộng nhất 5,5cm, một đầu nhọn.

(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3, tỉnh Đắk Lắk).

[5] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Bị cáo Lương Chí P phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 3.221.000đ (Ba triệu hai trăm hai mươi mốt ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Cỡ chữ