- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Thanh H lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Lương Thanh H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 06.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2025/HS-ST Ngày: 06-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Ảnh – Ông Phạm Công Lương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tới - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:
Lương Thanh H - Sinh ngày: 24/11/2006 tại tỉnh Quảng Ngãi; Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã B, tỉnh Quảng Ngãi (xã B, huyện B, tỉnh Quãng Ngãi cũ); Nghề nghiệp: Sinh viên; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lương Thanh H1 (sinh năm 1963) và bà Huỳnh Thị Trúc D (sinh năm 1973); Vợ con: Không.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Người bị hại: Ông Lê Nam K – sinh năm 2006; Địa chỉ: Số H H, phường H, TP Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền chi tiêu ăn uống và trả tiền thuê trọ nên Lương Thanh H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản thông qua hình thức mua bán điện thoại di động trên mạng xã hội Facebook. Trưa ngày 17/01/2025, H dùng tài khoản Facebook tên “Lương Thanh H” truy cập vào nhóm “Mua bán điện thoại Đà Nẵng” tìm kiếm thì phát hiện 01 bài đăng bán điện thoại hiệu Iphone XR màu trắng với giá 3.300.000 đồng của anh Lê Nam K (sinh năm: 2006, trú: 08 H, phường H, quận L, TP Đà Nẵng) nên muốn chiếm đoạt chiếc điện thoại này. H nhắn tin cho anh K và nói dối là sẽ mua điện thoại.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/01/2025, anh K và H gặp nhau tại trước nhà Đà Nẵng. H yêu cầu anh K đăng xuất tài khoản Icloud trên điện thoại và lấy điện thoại để kiểm tra. Sau khi cầm điện thoại kiểm tra được 05 phút, H nói dối với K là “Cho xin vô cắm sạc điện thoại, phòng trọ ngay gần hẻm đây, coi thử lên pin không”, anh K tưởng thật nên đồng ý. H cầm điện thoại, từ từ đi bộ khuất tầm nhìn của K rồi mới bỏ chạy đem về phòng trọ cất giấu. Khoảng 05 phút sau, không thấy H quay lại, biết mình bị lừa nên anh K đến Công an phường H trình báo sự việc.
Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 18/01/2025, anh K gọi vào điện thoại trên thì H nghe máy và yêu cầu anh K chuyển khoản số tiền 1.000.000 đồng vào tài khoản của H thì H sẽ trả lại điện thoại. Đến 16 giờ 20 phút ngày 18/01/2025, như đã trao đổi trước, H đem điện thoại giấu ở bãi đất trống tại vỉa hè đường H - Nguyễn Thành Ý và gửi vị trí để K đến lấy. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày, anh K đến vị trí H gửi và tìm thấy điện thoại. Nhưng anh K không chuyển 1.000.000 đồng cho H.
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/01/2025, Công an phường H mời H về trụ sở làm việc và H đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tài sản như trên.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR màu trắng, ốp lưng màu trong suốt, số IMEI1 357373094577087, IMEI2 357373094802352, bên trong có gắn sim vật lý số seri 8401231033196737 do anh Lê Nam K giao nộp;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, số IMEI 356579103812213, IMEI2 356579103793009, bên trong có gắn sim vật lý số seri 8984048000078695996 là điện thoại của Lương Thanh H giao nộp;
- 01 tập giấy A4 thể hiện nội dung tin nhắn messenger giữa H và K.
- 02 đoạn video clip ghi lại quá trình giao dịch của H và K.
Theo Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 27/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND quận H, kết luận: Điện thoại di động hiệu Iphone XR màu trắng, ốp lưng màu trong suốt có trị giá 3.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 77/CT-VKS, ngày 23 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Lương Thanh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đà Nẵng giữ nguyên toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Lương Thanh H, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lương Thanh H đã thành khẩn, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo xác nhận cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo thấy được hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, mong muốn HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về các hành vi và quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lương Thanh H và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Lương Thanh H trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Lương Thanh H có ý định chiếm đoạt tài sản nên truy cập vào nhóm “Mua bán điện thoại Đà Nẵng”, nhắn tin liên hệ với anh Lê Nam K và nói dối là muốn mua điện thoại của anh K để hẹn gặp mặt. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/01/2025, khi gặp nhau tại tại trước nhà số A phường H, TP Đà Nẵng (phường H, quận H cũ), Lương Thanh H nói với anh Lê Nam K là mượn điện thoại hiệu Iphone XR cầm vào nhà để kiểm tra, anh K tưởng thật nên đồng ý. Khi cầm điện thoại đi khuất thì H đem điện thoại về nhà cất giấu. Trị giá tài sản chiếm đoạt là 3.000.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo Lương Thanh H đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự như bản Cáo trạng số 77/CT-VKS, ngày 23 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Bị cáo Lương Thanh H có khả năng nhận thức được việc xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì muốn thụ hưởng vật chất nhanh chóng, lười nhát lao động nên đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, là một trong các quyền quan trọng được pháp luật bảo vệ, gây bất bình, hoang mang, lo lắng cho nhân dân, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo Lương Thanh H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
HĐXX xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét mức hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu tiên thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng và đảm bảo các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15.5.2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15.4.2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15.5.2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhưng vẫn đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội. Do đó, HĐXX quyết định áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 3.000.000 đồng nên mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là nặng so với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Về xử lý vật chứng: HĐXX xét thấy:
- Ngày 01/4/2025, Cơ quan điều tra Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2303/QĐ-VPCQCSĐT trả lại cho ông Lê Nam K 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XR màu trắng, 01 ốp lưng điện thoại dành cho mẫu điện thoại Iphone XR. Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H xử lý như vậy là có căn cứ nên HĐXX không xem xét.
- Đối với 01 sim vật lý số seri 8984048000078695996 của Lương Thanh H giao nộp không có giá trị sử dụng nên cần phải tuyên tịch thu tiêu hủy theo như quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, số IMEI 356579103812213, IMEI2 356579103793009 thu của Lương Thanh H là phương tiện liên lạc liên quan đến hành vi phạm tội nên cần phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo như quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Đối với 01 tập giấy A4 thể hiện nội dung tin nhắn messenger giữa H và K và 02 đoạn video clip ghi lại quá trình giao dịch của H và K là tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đã được đánh bút lục nên HĐXX xét thấy cần tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Nam K đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Đối với việc Lương Thanh H yêu cầu anh Lê Nam K chuyển khoản số tiền 1.000.000 đồng thì mới trả lại chiếc điện thoại Iphone XR. Tuy nhiên, H chỉ nhắn tin trao đổi, không đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần anh K; bản thân anh K khai nhận mục đích đồng ý chuyển tiền là để câu nhử bị cáo đưa lại điện thoại hoặc cung cấp thông tin cá nhân để thông báo cho cơ quan công an. Mặc khác, khi K chưa chuyển tiền thì H vẫn đem điện thoại để ở bãi đất trống. Sau khi lấy được điện thoại anh K cũng không chuyển tiền cho H. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ không xử đối với hành vi này của Lương Thanh H lý là có căn cứ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 174; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Lương Thanh H 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 06.8.2025.
Giao bị cáo Lương Thanh H cho UBND xã B, tỉnh Quảng Ngãi để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
2.1 Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu đen, số IMEI 356579103812213, IMEI2 356579103793009 là điện thoại của Lương Thanh H giao nộp.
2.2 Tịch thu tiêu hủy 01 sim vật lý số seri 8984048000078695996 của Lương Thanh H giao nộp;
(Toàn bộ vật chứng trên đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đà Nẵng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29 tháng 7 năm 2025 giữa Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Đà Nẵng và Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ).
2.3 Lưu trữ tại hồ sơ vụ án:
- 01 tập giấy A4 thể hiện nội dung tin nhắn messenger giữa H và K.
- 02 đoạn video clip ghi lại quá trình giao dịch của H và K.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lương Thanh H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; riêng những người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP Đà Nẵng; - VKSND TP Đà Nẵng; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an TP Đà Nẵng; - VKSND Khu vực 1 – Đà Nẵng; - Phòng THADS Khu vực 1 – Đà Nẵng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Kim Trinh |