- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Phương L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Phương L được ly hôn với ông Nguyễn Công S.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST Ngày: 08-8-2025 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền Trang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải, bà Nguyễn Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hoà Bình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trần Duy Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 273/2025/TLST - HNGĐ, ngày 23 tháng 6 năm 2025 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23/7/2025, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Phương L, sinh năm 2002.
Trú tại: Thôn T, xã N, tỉnh Hưng Yên.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Công S, sinh năm 1995.
Trú tại: Thôn 5, xã T, tỉnh Đắk Lắk.
Đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Bùi Phương L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng ông bà sau một thời gian quen biết, tìm hiểu và yêu thương nhau tự nguyện thì quyết định tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 07/4/2023. Sau khi về chung sống với nhau, vợ chồng ông bà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chính là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống. Hôn nhân của vợ chồng ông bà không thể cứu vãn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ông bà đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay. Vì vậy, nay bà L làm đơn khởi kiện xin ly hôn với ông S và có nguyện vọng là xin được ly hôn.
Về con chung: Trong thời kỳ chung sống vợ chồng ông bà có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 27/10/2023. Bà L có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu A cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà L không yêu cầu ông Sự cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Bà L không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết bị đơn ông Nguyễn Công S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng ông bà tự nguyện đến với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T vào ngày 07/4/2023. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hiện nay vợ chồng ông bà đã sống ly thân. Vì vậy, ông S đồng ý ly hôn với bà L.
Về con chung: Vợ chồng ông bà có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 27/10/2023. Hiện nay, cháu A còn nhỏ nên ông S đồng ý giao cháu A cho bà L nuôi dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông S không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Phương L được ly hôn với ông Nguyễn Công S.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 27/10/2023 cho bà Bùi Phương L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của đương sự có mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Căn cứ đơn khởi kiện của bà Bùi Phương L, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn bà L khởi kiện xin ly hôn với ông S có nơi cư trú tại xã T, tỉnh Đắk Lắk; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân khu vực 4, tỉnh Đắk Lắk thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vụ án là đảm bảo đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông S là hợp pháp, được pháp luật công nhận thể hiện tại Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 07 tháng 4 năm 2023 của Ủy ban nhân dân xã T. Quá trình tham gia tố tụng bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Ông S cùng thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, hiện nay vợ chồng ông bà đã sống ly thân. Vì vậy, ông S đồng ý ly hôn với bà L. Vì lý do công việc nên ông S xin từ chối tham gia tố tụng tại Toà án.
Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.”
Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L và ông S đã đến mức trầm trọng, vợ chồng ông bà sống ly thân mà không có biện pháp hàn gắn hạnh phúc gia đình. Quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông S không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn khởi kiện và cho bà L được ly hôn với ông S.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà L và ông S có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 27/10/2023. Hiện tại, cháu A đang ở với bà L, nguyện vọng của bà L là được nuôi dưỡng cháu A cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và ông S cũng đồng ý giao cháu A cho bà L nuôi dưỡng. Xét thấy, nguyện vọng của bà L là chính đáng, đảm bảo cho sự phát triển của con chung, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 27/10/2023 cho bà L nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Ông Nguyễn Công S được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông Nguyễn Công S không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà L không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Bà L không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bà L phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Bùi Phương L được ly hôn với ông Nguyễn Công S.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo A, sinh ngày 27/10/2023 cho bà Bùi Phương L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Ông Nguyễn Công S được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông Nguyễn Công S không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bà Bùi Phương L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0003308 ngày 16/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là phòng Thi hành án dân sự khu vực 4).
Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND khu vực 4; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - THADS tỉnh Đắk Lắk; - Người tham gia tố tụng; - UBND xã Tân T; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Huyền Trang |