- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh NVB - Chị NTBN"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh NVB.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST Ngày 31-7-2025 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Như
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Toàn;
2. Ông Trần Ngọc Hải.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trung – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân Khu vực 3, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Tô Việt Bảo- Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2025/TLST-HNGĐ ngày 19 ngày 6 năm 2025 về việc ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXX-ST ngày 16 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh NVB, sinh năm 1996; ĐKNKTT: Số 438 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng (nay là Số 438 A, phường D, thành phố Hải Phòng).
Nơi ở hiện nay: Số 7B5/5T/263 A, phường D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Bị đơn: Chị NTBN, sinh năm 1997; Nơi ĐKNKTT: Số 20/93 E, phường F, quận G, thành phố Hải Phòng; (nay là số 20/93 E, phường G, thành phố Hải Phòng). Nơi ở : Số 7E7/16 B Bạch Đằng, phường G, thành phố Hải Phòng;
Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn anh NVB trình bày:
Anh NVB và chị NTBN kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, quận G vào ngày 04 tháng 12 năm 2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại gia đình nhà chị NTBN một thời gian khoảng 01 năm thì anh NVB và chị NTBN mâu thuẫn nên anh NVB đã về nhà bố mẹ đẻ để sống, anh chị ly thân từ đó đến nay. Đến khoảng tháng 10/2024, chị NTBN bị Cơ quan công an bắt giữ về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hải Phòng nên vợ chồng ngày càng xa cách. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng nên anh NVB đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn với chị NTBN.
Về con chung: Anh NVB và chị NTBN không có con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh NVB và chị NTBN tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Đối với bị đơn là chị NTBN: Chị xác nhận về việc đăng ký kết hôn và quá trình chung sống như anh NVB đã trình bày. Nay anh NVB có đơn xin ly hôn với chị, quan điểm của chị là nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý, đề nghị Toà án giải quyết.
Về con chung: Chị NTBN xác nhận vợ chồng không có con chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị NTBN xác nhận chị và anh NVB tự thỏa thuận về tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3, thành phố Hải Phòng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh NVB, xử anh NVB được ly hôn chị NTBN. Về con chung: Anh chị không có con chung, không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Anh chị tự thỏa thuận nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí theo quy định của pháp luật. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền: Đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con. Bị đơn là chị NTBN có đăng ký hộ khẩu thường trú tại quận G (nay là phường G), thành phố Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 3, thành phố Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng có đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh NVB và chị NTBN kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường F, quận G, thành phố Hải Phòng (nay là phường G, thành phố Hải Phòng) vào ngày 04/12/2019 là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, phát sinh mâu thuẫn, đến nay vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Hiện chị NTBN đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hải Phòng nên vợ chồng ngày càng xa cách. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên xử cho anh NVB được ly hôn chị NTBN là phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về con chung: Anh NVB và chị NTBN xác nhận không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Anh NVB và chị NTBN xác nhận anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh NVB là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh NVB.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh NVB được ly hôn chị Nguyễn Thị Bích NTBN.
2. Về con chung: Anh NVB và chị NTBN xác nhận không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung: Anh NVB và chị NTBN tự thỏa thuận, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh NVB phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai số 0002716 ngày 19 tháng 6 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận G, thành phố Hải Phòng (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3- Hải Phòng); anh NVB đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Anh NVB và chị NTBN (vắng mặt) tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND TP Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - VKSND Khu vực 3 - Hải Phòng; - Phòng THADS Khu vực 3- Hải Phòng; - UBND phường G, thành phố Hải Phòng; - Các đương sự (để thi hành); - Lưu: HCTP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Quỳnh Như |