vanban.org

Bản án 14/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Lường Thị P và anh Quàng Văn T là quan hệ vợ chồng.

Về con chung: Xử giao cháu Quàng Mai Q, sinh ngày 19/01/2017 cho chị Lường Thị P là người được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lường Thị T - Quàng Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Lường Thị P và anh Quàng Văn T là quan hệ vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 15/12/2025
V/v: Không công nhận là vợ
chồng, nuôi con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2- SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lường Tiến Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Duôi.

2. Bà Thào Thị Chứ.

- Thư ký phiên toà: Ông Tòng Văn Cách - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2- Sơn La .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 15/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2- Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 26/2025/TLST- HNGĐ ngày 10/10/2025 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/11/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05/12/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/12/2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lƣờng Thị P; Sinh ngày: 18/02/1998; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Nơi cư trú: Bản L, xã T, tỉnh Sơn La; Vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Quàng Văn T; Sinh ngày: 03/5/1996; Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx; Nơi cư trú: Bản L, xã T, tỉnh Sơn La; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 01/10/2025, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Lường Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Quàng Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2016, không có đăng ký kết hôn, chỉ tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do anh Thanh nghiện ma túy đi tù từ năm 2020 về vẫn không thay đổi vẫn nghiện ma túy, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn đã kéo dài nhiều năm, đã ly thân từ năm 2020. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng giữa chị và anh Quàng Văn T.

Về con chung, cấp dƣỡng nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có một con chung: Cháu Quàng Mai Q, sinh ngày 19/01/2017. Chị P đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi các cháu trưởng thành, không yêu cầu anh Thanh phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không có.

Về tài sản riêng: Không có.

Về nợ chung: Chị P cam đoan không có nợ chung.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ chị P không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người làm chứng, người tham gia tố tụng. Nguyên đơn chị P đề nghị không tiến hành hòa giải và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Sơn La phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến trước khi ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Thụ lý đúng thẩm quyền tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đầy đủ tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu chứng cứ đầy đủ đúng quy định. Đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, gửi kịp thời các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng theo quy định tại các Điều 97, Điều 195, Điều 196, Điều 198, Điều 203, Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.

Việc tuân theo pháp luật của Thư ký phiên tòa: Tại phiên tòa đã thực hiện theo đúng quy định tại Điều 51, Điều 237 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn đã không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Lường Thị P: Chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.

- Về sự vắng mặt của bị đơn anh Quàng Văn T: Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ, niêm yết vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 7 Điều 3, khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Đề nghị:

Về hôn nhân: Xử tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Lường Thị P, anh Quàng Văn T là quan hệ vợ chồng.

Về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Xử giao cháu Quàng Mai Q, sinh ngày 19/01/2017 cho chị P là người được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu cho đến khi cháu trưởng thành. Anh Thanh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lường Thị P.

* Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu giải quyết việc ly hôn của nguyên đơn chị Lường Thị P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2-Sơn La, bị đơn có nơi cư trú tại xã T, tỉnh Sơn La nên Tòa án nhân khu vực 2- Sơn La thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Lường Thị P: Chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.

- Về sự vắng mặt của bị đơn anh Quàng Văn T: Anh Thanh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, niêm yết bị đơn vắng mặt không có lý do, vì vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là đảm bảo, đúng quy định pháp luật.

. Về quan hệ hôn nhân: Theo đơn khởi kiện và bản tự khai chị Lường Thị P trình bày: Chị và anh Quàng Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2016, không có đăng ký kết hôn, chỉ tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Hai vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do anh T nghiện ma túy đi tù từ năm 2020 về vẫn không thay đổi vẫn nghiện ma túy, tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn đã kéo dài nhiều năm, đã ly thân từ năm 2020. Nay chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng giữa chị và anh Quàng Văn T.

Theo kết quả biên bản xác minh tại bản Lĩnh Luông, xã T, tỉnh Sơn La như sau: Chị Lường Thị P và anh Quàng Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2016, không có đăng ký kết hôn chỉ tổ chức cưới theo phong tục địa phương.

Vì vậy chị Lường Thị P và anh Quàng Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2016, không có đăng ký kết hôn là trái với quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:“Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.

Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “ Nam, nữ đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của luật này”.

Do đó đây là cuộc hôn nhân không hợp pháp và không được pháp luật bảo vệ, quan hệ giữa chị Lường Thị P và anh Quàng Văn T không được công nhận là quan hệ vợ chồng.

. Về con chung, cấp dƣỡng nuôi con chung: Trong thời gian chung sống anh, chị có một con chung: Quàng Mai Q, sinh ngày 19/01/2017. Chị P đề nghị được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Quàng Mai Q cho đến khi cháu trưởng thành, Anh Thanh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Hội đồng xét xử căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên, xem xét Lường Thị P có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con hàng ngày. Tại biên bản ghi ý kiến cháu Quàng Mai Q ngày 10/11/2025 nguyện vọng của cháu muốn ở với mẹ, hiện tại cháu đang sống cùng với mẹ. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu như ăn mặc, học hành, những điều kiện cho sự phát triển về thể chất và tinh thần, tâm sinh lý... Giao cháu Quàng Mai Q cho chị Lường Thị P được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là có căn cứ cần được chấp nhận, hợp tình, hợp lý để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu, sau khi ly hôn anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó căn cứ Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

.Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

. Về tài sản riêng: Không có.

. Về nợ chung: Không có.

. Về án phí: Chị Lường Thị P là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lường Thị P.

. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 của Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 7 Điều 3, khoản 1 Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử tuyên bố không công nhận quan hệ giữa chị Lường Thị P và anh Quàng Văn T là quan hệ vợ chồng.

2. Về con chung: Xử giao cháu Quàng Mai Q, sinh ngày 19/01/2017 cho chị Lường Thị P là người được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dƣỡng nuôi con chung: Anh Quàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung

4. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Lường Thị P.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Lường Thị P và anh Quàng Văn T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ