vanban.org

Bản án 14/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị Chom R.

Về hôn nhân: Cho chị Sơn Thị Chom R ly hôn với anh Thạch Lâm X Về quyền, nghĩa vụ đối với con chung: Giao cháu Thạch Thị Ngọc V sinh ngày 06/02/2014 cho chị Sơn Thị Chom R trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị Chom R.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC A – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày 13-8-2025
V/v: Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC A – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Kim Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trần Đông

2. Ông Hoàng Sĩ Thạo

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Trung, là Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực A – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực A – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Kim Mau - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực A – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 201/2025/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2025 về việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 19/2025/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Sơn Thị Chom R, sinh ngày 01/01/1991

Địa chỉ: ấp S, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp B, xã N, tỉnh Vĩnh Long). Đề nghị xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Anh Thạch Lâm X, sinh ngày 01/01/1991

Địa chỉ: ấp T, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp T, xã N, tỉnh Vĩnh Long). Vắng mặt không lý do

- Con chung: Cháu Thạch Thị Ngọc V, sinh ngày 16/02/2014

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện chị Sơn Thị Chom R trình bày yêu cầu:

Về hôn nhân, chị và anh Thạch Lâm X tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 04/02/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống tại ấp S, xã N đến khoảng tháng 6/2024 phát sinh mâu thuẫn do anh X thường xuyên uống rượu say nhiều lần đe doạ sẽ giết vợ, hung hăng bạo lực gia đình nên chị yêu cầu ly hôn. Về con chung, chị và anh Thạch Lâm X có con chung tên Thạch Thị Ngọc V sinh ngày 16/02/2014, chị yêu cầu nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung, không có nên không yêu cầu.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị Sơn Thị Chom R1 cho rằng:

Chị vẫn giữ yêu cầu ly hôn vì từ ngày kết hôn sống chung anh X nhiều lần đánh chị trong thời gian dài, không sửa đổi mà ngày càng quá đáng hơn, từ tháng 6/2024 không còn sống chung, vợ chổng không còn tình cảm yêu thương nhau, không thể hàn gắn đoàn tụ. Con chung tên Thạch Thị Ngọc V sinh ngày 16/02/2014 hiện sinh sống cùng chị nên chị yêu cầu nuôi con sau ly hôn và không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Vì chị có công việc và thu nhập ổn định mỗi tháng khoảng 10.000.000đ – 12.000.000đ và có sự phụ giúp của cha mẹ nên đảm bảo điều kiện nuôi con tốt đến thành niên. Tài sản chung, nợ chung, chị vẫn khai xác nhận không có nên không yêu cầu chia hoặc tranh chấp gì khác khi ly hôn.

Bị đơn anh Thạch Lâm X vắng mặt nên không có lời trình bày, yêu cầu.

Tại ý kiến của cháu Thạch Thị Ngọc V (đủ 07 tuổi trở lên) trình bày nguyện vọng, tự nguyện yêu cầu được ở với mẹ là chị Sơn Thị Chom R khi cha mẹ ly hôn.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán về việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng đúng quy định. Riêng bị đơn chưa thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng đúng quy định.

Về việc giải quyết vụ án:

Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy, chị Sơn Thị Chom R và anh Thạch Lâm X tự nguyện sống chung và có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay xã N, tỉnh Vĩnh Long) năm 2013 là có thật. Quá trình chung sống tại nhà chị Chom R hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn và không còn sống chung từ khoảng tháng 6/2024 do anh Thạch Lâm X thường xuyên uống rượu say đòi hâm dọa giết chị Chom R nên chị yêu cầu ly hôn. Con chung chị cũng yêu cầu nuôi theo nguyện vọng của cháu Thạch Thị Ngọc V sinh ngày 16/02/2014 muốn được sống chung với chị Chom R và chị không yêu cầu cấp dưỡng do chị có thu nhập từ 10.000.000đ – 12.000.000đ mỗi tháng. Tài sản chung chị Chom R khai không có tài sản chung. Thời gian sống chung nhà cho cha mẹ chị Chom R có phụ tiền sửa chữa nhà để cùng ở nhưng chị Chom R không yêu cầu chia khi ly hôn. Nợ chung không có nên cũng không yêu cầu. Bị đơn anh Lâm X đã được thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Xét thấy, việc vắng mặt của bị đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án xem như từ bỏ quyền lợi của mình. Trường hợp bị đơn muốn bảo vệ quyền lợi của mình sau khi bản án có hiệu lực có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật. Vì các lẽ nêu trên:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; 227; 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025; Khoản 1 Điều 9, 51, 53, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Sơn Thị Chom R được ly hôn với anh Thạch Lâm X. Về con chung: Thạch Thị Ngọc V, sinh ngày 16/02/2014 giao cho chị Sơn Thị Chom R chăm sóc, nuôi dưỡng và anh Thạch Lâm X không cấp dưỡng do chị Chom R không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Sơn Thị Chom R không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Buộc chị Sơn Thị Chom R nộp án phí hôn nhân và gia đình theo quy định pháp luật.

Những yêu cầu, kiến nghị đề nghị cần khắc phục: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Chị Sơn Thị Chom R khởi kiện anh Thạch Lâm X có nơi cư trú tại ấp T, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là ấp T, xã N, tỉnh Vĩnh Long), nội dung yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con chung. Nhận thấy, căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, Toà án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (nay là Toà án nhân dân Khu vực A - Vĩnh Long) thụ lý, giải quyết vụ án, cũng như xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định tư cách đương sự là đúng quy định.

Sự vắng mặt của nguyên đơn chị Sơn Thị Chom R là có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Thạch Lâm X là vắng mặt không lý do. Nhận thấy, anh Thạch Lâm X đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai mà vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, căn cứ vào điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025, vẫn tiến hành xét xử vắng mặt tất cả người tham gia tố tụng.

Tại đơn khởi kiện và các lời khai của đương sự cho thấy, chị Sơn Thị Chom R và anh Thạch Lâm X kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn, được thể hiện tại giấy chứng nhận kết hôn số 09/2024, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh (nay là Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Vĩnh Long) ngày 04/02/2013 (bút lục 06) nên hôn nhân của họ là hợp pháp.

Chị Sơn Thị Chom R cho rằng do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn. Trước khi đưa vụ án ra xét xử, Toà án đã có thông báo hoà giải nhằm tạo điều kiện để vợ chồng đoàn tụ, mà anh Thạch Lâm X vắng mặt, Toà án có động viên, giải thích, đồng thời thuyết phục chị Sơn Thị Chom R hàn gắn tình nghĩa vợ chồng mà không thành, bà kiên quyết giữ yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con chung. Đối với anh Thạch Lâm X không có văn bản phản đối hoặc đưa ra ý kiến hay yêu cầu của mình trong vụ án, tại thời điểm xét xử hai người không còn sống chung và chị Sơn Thị Chom R không yêu cầu đoàn tụ, điều này thể hiện mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có cơ sở chấp nhận cho chị Sơn Thị Chom R và anh Thạch Lâm X ly hôn.

Đối với con chung cháu Thạch Thị Ngọc V sinh ngày 16/02/2014, qua giấy khai sinh thể hiện cháu đã đủ từ 07 tuổi trở lên (bút lục 03) và có ý kiến trình bày nguyện vọng tự nguyện yêu cầu ở với chị Sơn Thị Chom R (bút lục 34, 35). Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã có giải thích quy định của pháp luật về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con tại các điều 82, 83, 107 và điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng đương sự xác định không yêu cầu cấp dưỡng. Nhận thấy, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con chung, nguyện vọng của cháu Thạch Thị Ngọc V và xác minh tại địa phương thời điểm xét xử vụ án, cháu V do chị Sơn Thị Chom R trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trong điều kiện đáp ứng các nhu cầu thiết yếu nên có cơ sở giao cháu V cho chị Sơn Thị Chom R trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục sau ly hôn. Đồng thời sau ly hôn người trực tiếp nuôi con có quyền khởi kiện yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Quyền, nghĩa vụ đối với tài sản chung, quá trình giải quyết vụ án chị Sơn Thị Chom R khai xác nhận không có, đồng thời anh Thạch Lâm X không có văn bản phản đối hoặc đưa ra yêu cầu tranh chấp gì khác nên không xem xét, giải quyết.

Quan điểm phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về việc giải quyết vụ án là có cơ sở, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 238 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58 và các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Sơn Thị Chom R.

1. Về hôn nhân: Cho chị Sơn Thị Chom R ly hôn với anh Thạch Lâm X

2. Về quyền, nghĩa vụ đối với con chung: Giao cháu Thạch Thị Ngọc V sinh ngày 06/02/2014 cho chị Sơn Thị Chom R trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Về cấp dưỡng cho con: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết (sau khi ly hôn người trực tiếp nuôi con được quyền khởi kiện yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự).

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được ngăn cản. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về quyền, nghĩa vụ tài sản chung: Đương sự khai xác nhận không có, không yêu cầu chia hoặc tranh chấp gì khác nên không giải quyết.

4. Về án phí: Buộc chị Sơn Thị Chom R chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn 300.000 đồng và được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số: 0014619 ngày 06/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực A – Vĩnh Long) nên không phải nộp tiếp.

Anh Thạch Lâm X không phải chịu án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền, nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ