vanban.org

Bản án 14/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị B được ly hôn với anh Lò Văn K.

Về con chung: Giao cháu Lò AT, sinh ngày 03/11/2019 cho anh Lò Văn K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "giải quyết ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị B được ly hôn với anh Lò Văn K.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/HNGĐ–ST
Ngày: 20–01–2025
V/v: Ly hôn, nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thiệp, bà Lý Thị Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phượng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Khánh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 41/2024/TLST-HNGĐ ngày 01-11-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25-12-2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09-01-2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Quàng Thị B, sinh năm 2002. (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Bản NS, xã BM, huyện TC, tỉnh Sơn La.

2. Bị đơn: Anh Lò Văn K, sinh năm 1998. (Vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Bản NS, xã BM, huyện TC, tỉnh Sơn La.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Quàng Thị B trình bày:

Chị Quàng Thị B và anh Lò Văn K kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 25/8/2020 tại UBND xã ME, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Quàng Thị B và anh Lò Văn K đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, chị Quàng Thị B xác định tình cảm vợ chồng không còn. Chị Quàng Thị B yêu cầu ly hôn với anh Lò Văn K.

Về con chung: Chị Quàng Thị B và anh Lò Văn K có 01 con chung là cháu Lò AT, sinh ngày 03/11/2019. Hiện tại cháu Lò AT sống cùng anh Lò Văn K.

Chị Quàng Thị B đề nghị giao cháu Lò AT cho anh Lò Văn K tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lò AT.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị B không cấp dưỡng nuôi con chung do vợ chồng chị B, anh K đã thỏa thuận.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị B cam đoan không có nợ chung.

Trong bản tự khai, bị đơn anh Lò Văn K trình bày:

Anh Lò Văn K và chị Quàng Thị B kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 25/8/2020 tại UBND xã ME, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau không có mâu thuẫn. Chị B tự bỏ đi khi anh K bị bệnh ốm, chị B không quan tâm chăm sóc. Sau đó chị B ở với người đàn ông khác. Vợ chồng sống ly thân do đi làm thuê không ở cùng nhau, chị B không cho anh K ở cùng phòng nên tình cảm dần xa cách. Nay chị Quàng Thị B yêu cầu ly hôn, anh Lò Văn K không nhất trí ly hôn với chị Quàng Thị B do anh K còn nhiều tình cảm với chị B và thương con.

Về con chung: Anh Lò Văn K và chị Quàng Thị B có 01 con chung là cháu Lò AT, sinh ngày 03/11/2019. Hiện tại cháu Lò AT sống cùng anh Lò Văn K.

Nếu ly hôn, anh Lò Văn K đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Lò AT.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh K không yêu cầu chị B phải cấp dưỡng nuôi con chung, tùy vào điều kiện chị B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con không bắt buộc.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Anh K cam đoan không có nợ chung.

Căn cứ khoản 3 Điều 208 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng và điều kiện nuôi con tại địa chỉ nơi cư trú của các đương sự:

Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương ngày 19/12/2024 xác định: Anh Lò Văn K và chị Quàng Thị B có đăng ký kết hôn và chung sống với nhau tại bản NS, xã BM, huyện TC, tỉnh Sơn La. Quá trình chung sống có nảy sinh mâu thuẫn nên đã sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn thì chính quyền địa phương không nắm được. Anh Lò Văn K và chị Quàng Thị B có 01 con chung là cháu Lò AT. Hiện tại cháu Lò AT đang ở với anh Lò Văn K. Anh K có khả năng và điều kiện nuôi con.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không cung cấp thêm chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự khác xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.

Chị Quàng Thị B có đơn đề nghị xét xử vắng mặt với nội dung: Chị B giữ nguyên ý kiến như trình bày trong đơn khởi kiện, bản tự khai và có yêu cầu miễn án phí.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng đầy đủ tư cách tham gia tố tụng, tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ đúng quy định, đảm bảo đúng thời hạn, tống đạt đầy đủ hợp lệ các văn bản tố tụng cho đương sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Viện kiểm sát đề nghị:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị B được ly hôn với anh Lò Văn K.

Về con chung: Giao cháu Lò AT, sinh ngày 03/11/2019 cho anh Lò Văn K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng: Chị Quàng Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Quàng Thị B theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Quàng Thị B yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lò Văn K có nơi cư trú tại bản NS, xã BM, huyện TC, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Quàng Thị B vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Lò Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị B và anh Lò Văn K kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn ngày 25/8/2020 tại Ủy ban nhân dân xã ME, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn trên cơ sở tự nguyện không bị ép buộc. Vợ chồng chị B, anh K chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Quàng Thị B và anh Lò Văn K đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Chị Quàng Thị B xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Lò Văn K.

Anh Lò Văn K không nhất trí ly hôn với chị Quàng Thị B do anh K còn nhiều tình cảm với chị B và thương con.

Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai và tại phiên tòa cho thấy cuộc sống chung vợ chồng của chị B và anh K không hạnh phúc, mâu thuẫn kéo dài, chị B đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, anh K đã cố gắng níu kéo tình cảm nhưng chị B vẫn kiên quyết ly hôn, mâu thuẫn không thể hàn gắn, nguyên nhân do mâu thuẫn gia đình, vợ chồng đã sống ly thân được một thời gian dài không thể hòa hợp, dẫn đến tình cảm vợ chồng xa cách, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc.

Từ các căn cứ nêu trên cho thấy mâu thuẫn của vợ chồng chị B và anh K đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho chị Quàng Thị B ly hôn với anh Lò Văn K.

Về con chung: Chị Quàng Thị B và anh Lò Văn K có 01 con chung là cháu Lò AT, sinh ngày 03/11/2019. Hiện tại cháu Lò AT sống cùng anh Lò Văn K.

Chị Quàng Thị B đề nghị giao cháu Lò AT cho anh Lò Văn K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Lò Văn K nhất trí với ý kiến của chị Quàng Thị B về nuôi con chung.

Hội đồng xét xử xét thấy: Ý kiến của chị Quàng Thị B và anh Lò Văn K đều đồng nhất giao cháu Lò AT cho anh Lò Văn K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Lò Văn K có nơi ở ổn định, có công việc và thu nhập. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh Lò Văn K đảm bảo được sự phát triển tốt về mọi mặt cho cháu Lò AT. Do đó cần chấp nhận ý kiến của các đương sự, giao cháu Lò AT cho anh Lò Văn K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Quàng Thị B và anh Lò Văn K xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

Về án phí: Nguyên đơn chị Quàng Thị B là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện – kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có yêu cầu miễn án phí. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Quàng Thị B. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị B được ly hôn với anh Lò Văn K.

2. Về con chung: Giao cháu Lò AT, sinh ngày 03/11/2019 cho anh Lò Văn K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi và có khả năng lao động) hoặc đến khi có quyết định khác của cơ quan có thẩm quyền.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Quàng Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con chung do không ai yêu cầu.

4. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị Quàng Thị B và anh Lò Văn K xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Do đó không xem xét giải quyết trong vụ án. Trường hợp sau khi giải quyết ly hôn có phát sinh tranh chấp và có người yêu cầu, sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

5. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho chị Quàng Thị B.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị B và anh Lò Văn K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ