vanban.org

Bản án 14/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S khởi kiện ông Nguyễn Thanh N về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản.

[2] Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 22/4/2025 là 15.893.727 đồng (mười lăm triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn, bảy trăm hai mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 10.452.207 đồng (mười triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn, hai trăm … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mượn tài sản"
  • Tòa quyết gì? [1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S khởi kiện ông Nguyễn Thanh N về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LONG MỸ
TỈNH H GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2025/DS-ST
Ngày: 22/4/2025
V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố tài
sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH H GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Âu Cần Đông

Bà Hồ Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ngà – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh H Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh H Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 244/2024/TLST-DS ngày 15 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2025/QĐST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần S; Địa chỉ: số 128, Nguyễn Du, phường Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông K – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thanh H, sinh năm 1974. (Văn bản ủy quyền ngày 31/3/2024). Có mặt

Địa chỉ: Số 102, đường 30/4, khu vực 2, phường T, thị xã L, tỉnh H Giang.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp T, xã T, thị xã L, tỉnh H Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Công ty cổ phần S (gọi tắt là Công ty), người đại diện tham gia tố tụng ông Nguyễn Thanh N trình bày: Ông Nguyễn Thanh N có ký hợp đồng cầm cố số LMM231001008NA20X, ngày 23/10/2023 với Công ty cổ phần S, ông N cầm cố tài sản là 01 xe mô tô biển kiểm soát 95B1-888.20, loại xe HONDA-WINNER X, màu đen cam, số khung RLHKC3707LY009680, số máy KC34E1141784 để lấy số tiền 11.315.000 đồng, thời hạn cầm cố là 12 tháng với mức lãi suất 1,1%/tháng. Do nhu cầu cần xe đi lại nên ông N mượn lại xe sử dụng. Trong giấy mượn xe có ghi rõ thời hạn mượn xe từ ngày 23/10/2023 đến ngày 23/11/2023.

Quá trình trả nợ ông N chưa thanh toán đúng theo hợp đồng mặc dù công ty đã đến nhà nhắc nhở. Nay ông N không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe cho công ty.

Công ty cổ phần S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Thanh N phải thanh toán cho Công ty tính đến ngày 22/4/2025 số tiền 19.615.000 đồng, trong đó nợ gốc là 10.452.207 đồng, lãi trong hạn 708.086 đồng, lãi quá hạn 4.733.434 đồng, phí quản lý hồ sơ 321.857 đồng, phí hao mòn tài sản 3.399.425 đồng. Ngoài ra ông N còn phải tiếp tục chịu lãi suất và phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký đến khi thanh toán hết nợ. Trường hợp ông N không thanh toán được số tiền trên, ông Nghiên phải thực hiện nghĩa vụ trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 95B1-888.20 cho Công ty.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Công ty yêu cầu ông Nguyễn Thanh N trả số tiền nợ gốc là 10.452.207 đồng, lãi trong hạn 708.086 đồng, lãi quá hạn 4.733.434 đồng, Công ty rút yêu cầu ông Nguyễn Thanh N trả các loại phí và không yêu cầu ông N phải có nghĩa vụ trả lại xe nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Thanh N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S khởi kiện ông Nguyễn Thanh N về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản. Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 22/4/2025 là 15.893.727 đồng, trong đó nợ gốc là 10.452.207 đồng, lãi trong hạn 708.086 đồng, lãi quá hạn 4.733.434 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh N trả các loại phí, trả lại xe môtô hai bánh biển kiểm soát 95B1-888.20, loại xe HONDA-WINNER X, màu đen cam, số khung RLHKC3707LY009680, số máy KC34E1141784.

Về án phí dân sự sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền dựa trên hợp đồng cầm cố, đây là vụ án tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã Long Mỹ, căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh H Giang.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thanh N đã được triệu tập nhưng vắng mặt không có lý do. Nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn và giành quyền kháng cáo cho bị đơn theo luật định.

Về nội dung: Căn cứ vào hợp đồng cầm cố tài sản LMM231001008NA20X, ngày 23/10/2023, Phụ lục hợp đồng cầm cố thể hiện ông Nguyễn Thanh N có cầm cố cầm cố tài sản là 01 xe mô tô biển kiểm soát 95B1-888.20, loại xe HONDA-WINNER X, màu đen cam, số khung RLHKC3707LY009680, số máy KC34E1141784 để lấy số tiền 11.315.000 đồng, thời hạn cầm cố là 12 tháng; mức lãi suất là 1,1%/tháng trên dư nợ thực tế, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Ngoài ra, trong hợp đồng cầm cố các bên còn thỏa thuận phí quản lý hồ sơ cố định là 0,5%/tháng trên dư nợ thực tế tính từ ngày ký hợp đồng và nhận tiền. Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn không trả tiền gốc và lãi. Do đó, Công ty yêu cầu ông Nguyễn Thanh Nghiên trả tổng cộng số tiền đến ngày 22/4/2025 là 15.893.727 đồng, trong đó nợ gốc là 10.452.207 đồng, lãi trong hạn 708.086 đồng, lãi quá hạn 4.733.434 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh sau ngày xét xử sơ thẩm cho đến ngày thanh toán tất nợ là có căn cứ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện liên quan đến trả các loại phí và không yêu cầu ông Nguyễn Thanh N phải có nghĩa vụ trả lại xe môtô biển kiểm soát 95B1-888.20, loại xe HONDA-WINNER X, màu đen cam, số khung RLHKC3707LY009680, số máy KC34E1141784. Đây là sự tự nguyện của đương sự, căn cứ Điều 5, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trong phạm vi giải quyết vụ án Hội đồng xét xử không xem xét và đình chỉ nội dung yêu cầu nêu trên.

Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Nguyễn Thanh N phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 310, Điều 311 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S khởi kiện ông Nguyễn Thanh N về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản.

[2] Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh N có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần S tổng số tiền tính đến ngày 22/4/2025 là 15.893.727 đồng (mười lăm triệu, tám trăm chín mươi ba nghìn, bảy trăm hai mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 10.452.207 đồng (mười triệu bốn trăm năm mươi hai nghìn, hai trăm lẻ bảy đồng), lãi trong hạn 708.086 đồng (bảy trăm lẻ tám nghìn, không trăm tám mươi sáu đồng), lãi quá hạn 4.733.434 đồng (bốn triệu bảy trăm ba mươi ba nghìn, bốn trăm ba mươi bốn đồng).

Kể từ ngày 23/4/2025 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần S về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh N trả các loại phí, trả lại xe môtô biển kiểm soát 95B1-888.20, loại xe HONDA-WINNER X, màu đen cam, số khung RLHKC3707LY009680, số máy KC34E1141784.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Thanh N phải chịu số tiền là 794.686 đồng (bảy trăm chín mươi bốn nghìn, sáu trăm tám mươi sáu đồng).

Nguyên đơn Công ty cổ phần S (có người đại diện ủy quyền là ông Phạm Thanh H) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 323.000 đồng (ba trăm hai mươi ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008109 lập ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh H Giang.

[5] Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[6] Nguyên đơn Công ty cổ phần S có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/4/2025). Bị đơn ông Nguyễn Thanh N vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ