- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà — án dân sự — "Nguyễn Tiến T tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến T:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2025/DS-ST Ngày: 23-6-2025 V/v tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đặng Văn Trị.
2. Ông Ngô Văn Nghị.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Nữ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Kim Châu Nghĩa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tiến T, sinh năm 1987 (có mặt).
Trú tại: Thôn G2, xã G, huyện TS, Bình Định.
- Bi ̣ đơn: Ông Võ Xuân Q, sinh năm 1979 (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Ánh T1, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Đồng trú: Thôn G1, xã G, huyện TS, Bình Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện (về việc tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản), bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là ông Nguyễn Tiến T trình bày: Ông là chủ Cửa hàng đồ điện gia dụng. Ông Võ Xuân Q là người cùng địa phương. Trong khoảng thời gian từ ngày 13/12/2022 đến 29/02/2024 ông Q có đến Cửa hàng của ông mua một số đồ điện gia dụng. Vì là chỗ quen biết nên ông cho ông Q mua nợ, có ghi hóa đơn theo dõi mỗi lần mua bán. Tổng số tiền ông Q mua hàng nợ là 45.174.000đ. Ông Q hẹn trả dần cho ông nhưng sau đó ông đòi nhiều lần nhưng ông Q không chịu trả nợ.
Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Võ Xuân Q phải trả lại cho ông số tiền 45.174.000đ về khoản nợ mua vật liệu xây dựng từ trước đến tháng 02/2024 chưa trả, không yêu cầu tính lãi.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Võ Xuân Q trinh̀ bày: Thống nhất như ông Nguyễn Tiến T đã trình bày về giao dịch mua bán, thời gian mua, số tiền nợ. Ông Q thừa nhận có mua đồ gia dụng tại cửa hàng của ông T; xác định tổng số tiền nợ là 45174.000đ. Cuối năm 2023 ông bị vỡ nợ, xin ông T cho trả hàng tháng nhưng ông T không chịu, mới khởi kiện tại Tòa.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - bà Ngô Thị Ánh T1 trinh bà
̀y: Bà nguyên là vợ của ông Võ Xuân Q nhưng bà và ông Q đã ly hôn năm 2021. Việc ông T kiện ông Q Tòa bà không biết, không khai gì.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn phát biểu:
Việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử từ khi Tòa thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án cơ bản là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự tuy nhiên vẫn còn 1 vi phạm; nguyên đơn - ông Nguyễn Tiến T chấp hành đúng theo quy định tại các Điều 70, 71, 73 BLTTDS năm 2015; bị đơn ông Võ Xuân Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Ánh T1 chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72, 73 BLTTDS năm 2015.
Về nội dung vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 429, 430, 440 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến T: Buộc ông Võ Xuân Q phải trả cho ông Nguyễn Tiến T số tiền 45.174.000đ về khoản nợ mua đồ điện gia dụng trước năm 2024 chưa trả. Về án phí: theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn là ông Võ Xuân Q, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Ánh T1 vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ hai lần. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Ông Nguyễn Tiến T và ông Võ Xuân Q đều thống nhất: Khoảng trước năm 2024 ông Võ Xuân Q có mua đồ điện gia dụng tại cửa hàng của ông Nguyễn Tiến T; xác định tổng số tiền nợ là 45174.000đ. Do thua lỗ ông Q xin được trả dần khoản nợ nhưng ông T không đồng ý. Đây là tình tiết mà cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận, không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử công nhận. Đây là hợp đồng mua bán tài sản theo quy định tại Điều 430 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Các bên đều thống nhất ông Q còn nợ ông T là 45.174.000đ về khoản mua đồ điện gia dụng chưa trả. Ông T đã nhiều lần đòi nợ nhưng ông Q vẫn không trả nợ là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ông T yêu cầu Tòa án buộc ông Q phải trả số tiền còn nợ 45.174.000đ là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 433, 440 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên HĐXX chấp nhận.
Bà Ngô Thị Ánh T1 đã ly hôn với ông Q nên không có nghĩa vụ gì trong khoản nợ này.
Về tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Ông T không yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- Ông Nguyễn Tiến T không phải chịu án phí sơ thẩm; hoàn trả lại cho ông T số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) - tạm ứng án phí đã nộp trước.
- Ông Võ Xuân Q phải chịu án phí với số tiền là 45.174.000đ x 5% = 2.258.700đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
ô[
Căn cứ Khoản 1 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228, Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 357, 429, 430, 433, 440 và 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tiến T:
Buộc ông Võ Xuân Q phải trả cho ông Nguyễn Tiến T số tiền 45.174.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu một trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) về khoản nợ mua đồ điện gia dụng chưa thanh toán.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Tiến T không phải chịu án phí sơ thẩm; hoàn trả lại cho ông Nguyễn Tiến T số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)- tạm ứng án phí đã nộp trước theo biên lai số 0005784 ngày 25/11/2024 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn thu.
- Ông Võ Xuân Q phải chịu án phí với số tiền là 2.258.700 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi tám nghìn bảy trăm đồng).
3. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
4. Quyền và nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND huyện Tây Sơn; - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Giang Nam |