vanban.org

Bản án 14/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội Tuyên án 18/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc B, Phan Văn M, Nguyễn Hữu Phi H1, Bùi Thiện K, Vũ Hồng Q phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Quốc B 30 (Ba mươi) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt của bản án hình sự số 24/2023/HS-ST ngày 24/04/2023 Toà án nhân dân Huyện Đ xử phạt 06 tháng tù về tội cố ý làm hư hỏng tài sản và bản án hình sự số 106/2023/HSST ngày 28 tháng 09 năm 2023 Toà án nhân dân Huyện B là 09 năm t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc B, Phan Văn M, Nguyễn Hữu Phi H1, Bùi Thiện K, Vũ Hồng Q phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HAI BÀ TRƯNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------
Bản án số: 14/2024/HSST
Ngày: 18/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Tú

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Huyền Nga

2. Bà Huỳnh Thị Thanh Hà (Giáo viên)

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Châu Long – Cán bộ Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng – Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 01 tháng 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 295/HSST ngày 08/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 265/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số 51/2023/HSST ngày 28/12/2023 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Quốc B - sinh ngày 01/10/2004 ; Hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh L; Chỗ ở : Lang thang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Nguyễn Duy C; Con bà: Nguyễn Thị Mai T; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân :

- Bản án hình sự số 24/2023/HS-ST ngày 24/04/2023, Tòa án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản.

- Bản án hình sự số 106/2023/HS-ST Ngày 28/9/2023,Tòa án nhân dân huyện B, thành phố Hà Nội xử phạt 09 (Chín) năm tù về tội Cướp tài sản. Tổng hợp với hình phạt của bản án hình sự số 24/2023/HS-ST ngày 24/04/2023 Toà án nhân dân Huyện Đ xử phạt 06 tháng tù về tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 9 năm 6 tháng tù. D chỉ bản số 367 lập ngày 03/07/2023 do Công an quận H cung cấp. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam T8 - T

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Phan Văn M - sinh ngày 06/12/2005 (phạm tội khi mới 17 tuổi 01 tháng 06 ngày); Hộ khẩu thường trú: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh N; Chỗ ở: Lang thang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Phan Văn H; Con bà: Võ Thị L; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: không

Nhân thân:

- Ngày 25/7/2023, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử 12 (mười hai) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng

- Ngày 18/01/2024, Toà án nhân dân Huyện T, thành phố Hà Nội xử 18 (Mười tám) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp 12 (Mười hai) tháng tù của bản án số 146/2023/HS-ST ngày 25/07/2023 của Toà án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 30 (B) tháng tù. Danh chỉ bản số 360 lập ngày 01/07/2023 do Công an quận H cung cấp. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam N4 - N.

Có đơn xin xét xử vắng mặt

3. Nguyễn Hữu Phi H1 - sinh ngày 21/10/2005 (Phạm tội khi mới 17 tuổi 02 tháng 24 ngày); Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ A, phường L, quận H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn:10/12; Con ông: Nguyễn Văn L1; Con bà: Nguyễn Thị Kim N; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân:

- Ngày 17/01/2023 Toà án nhân dân quận Hoàng Mai xử phạt 38 tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Ngày 27/04/2023, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phúc thẩm 32 tháng tù về tội cố ý gây thương tích.

- Ngày 24/5/2023, Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 28 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt của bản án số 358 ngày 27/04/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, hình phạt chung là 60 tháng tù. Danh chỉ bản số 361 lập ngày 01/07/2023 do Công an quận H cung cấp. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam S3 - B, Hà Nội.

Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

4. Bùi Thiện K - sinh ngày 30/11/2004; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: P310 nhà B2 TT H, phường T, quận H, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Bùi Khắc C2 (Đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Kim S; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không. Danh chỉ bản số 369 lập ngày 03/7/2023 do Công an quận H cung cấp. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

5. Vũ Hồng Q - sinh ngày 06/11/2006; (Phạm tội khi mới 16 tuổi 02 tháng 08 ngày); Hộ khẩu thường trú : P102 B14 phường P, quận Đ, Hà Nội; Nơi ở: Số nhà A Ngõ E phường T, quận T, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Vũ Hồng P; Con bà: Thái Thị T1 (đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: Không. D chỉ bản số 368 lập ngày 03/7/2023 do Công an quận H cung cấp. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Phan Văn M:

Bà Võ Thị L - sinh năm: 1984, trú tại: Xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh N)

Có mặt tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hữu Phi H1:

Bà Nguyễn Thị Kim N (sinh năm: 1984, trú tại: Tổ A phường L, quận H, thành phố Hà Nội)

Có đơn xin vắng tại phiên tòa.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Hồng Q:

Ông Vũ Hồng P (sinh năm: 1969, trú tại: Số A ngõ E T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội). Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Sỹ T2, sinh năm:6/10/2005

Người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Anh T3

Cùng trú tại: B, T, P, H.

2. Anh Nghiêm Hoàng Gia H2, sinh ngày: 30/01/2008

Người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thúy H3

Cùng trú tại: Số nhà B ngõ C, quận Đ, Hà Nội

Vắng mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn M:

Bà Đinh Thị Phương M1 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thuộc Sở tư pháp Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu Phi H1:

Bà Nghiêm Thị N1 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thuộc Sở tư pháp Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Vũ Hồng Q:

Bà Nguyễn Thị L2 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thuộc Sở tư pháp Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19h00 ngày 12/01/2023, Nguyễn Quốc B rủ Vũ Hồng Q , Nguyễn Hữu Phi H1, Phan Văn M đến tập trung ở cửa hàng C4, số H phố L, phường M, quận H, Hà Nội đi đánh nhau giải quyết mâu thuẫn giúp B. Đến khoảng 19h30 cùng ngày, cả nhóm gồm có: Vũ Hồng Q, Nguyễn Quốc B, Nguyễn Hữu Phi H1, Phan Văn M, Bùi Thiện K và các đối tượng Hữu N2, Nghiêm Hoàng S1, Nguyễn Huy H4, Vũ Minh T4, Vũ Hoàng D1, Vũ Hoàng Nhật Đ (chưa xác định được nhân thân) đến tập trung tại quán C5 ở số H phố L nhưng không gặp được nhóm có mâu thuẫn với Nguyễn Quốc B.

Lúc này, Nguyễn Gia H5 (chưa xác định được nhân thân) liên hệ rủ B đi đánh nhau ở phố K, quận Đ, Hà Nội, B đồng ý và thông báo lại cho cả nhóm. Do Phan Văn M chưa hết giờ làm việc nên M, Vũ Minh T4, Vũ Hoàng D2, Vũ Hoàng Nhật Đ đi về quán cafe “Ba Lan" trên phố T, quận H, Hà Nội. Một lúc sau, Vũ Minh T4 và Vũ Hoàng Dương cầm theo 4-5 vỏ chai bia, quay lại tập hợp cùng nhóm của B tại C ở số H phố L. Nhóm của B lúc này có: Vũ Hồng Q, Bùi Thiện K, H, Vũ Minh T4, Vũ Hoàng D1, Nguyễn Hữu Phi H1, Nguyễn Huy H4.

Cả nhóm đi khoảng 4-5 xe máy di chuyển theo hướng L - T - K - T - Đại Cồ V

- Xã Đ - K đến khu vực cây xăng số B phố K, phường T, quận Đ, Hà Nội tập trung cùng nhóm của Nguyễn Gia H5 gồm có khoảng 06 xe máy, mỗi xe 2 người. Hai nhóm cùng di chuyển ra quán bi-a trên phố K - Hà Nội để tìm nhóm mâu thuẫn với nhóm của Gia H5 nhưng không gặp được. Cả nhóm tiếp tục di chuyển ra khu vực cổng rạp xiếc Trung ương trên phố T, phường N, quận H, Hà Nội tập trung để tiếp tục đi tìm nhóm đối thủ đánh nhau. Lúc này, Phan Văn M đi cùng với Vũ Hoàng Nhật Đ đến tập trung cùng.

Tại đây, Nguyễn Gia H5 lấy từ trong vỏ bao đựng gậy bi-a 4-5 con dao tông chia cho các đối tượng. Sau đó, cả nhóm sắp xếp xe máy và người như sau:

- Nguyễn Quốc B điều khiển xe máy chở Vũ Hồng Q cầm theo 01 vỏ chai bia và 01 người của nhóm Gia H5;

- Hữu N2 điều khiển xe máy chở Bùi Thiện K;

- Nguyễn Huy H4 điều khiển xe máy chở Nguyễn Hữu P1 H4 cầm theo 01 dao tông;

- Vũ Hoàng Nhật Đ điều khiển xe máy chở Phan Văn M cầm theo vỏ chai bia.

Lúc này, 02 đối tuợng (chưa xác định được nhân thân) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng cầm dao tông chạy ngược chiều trên phố Trần Nhân T5 đi qua chửi nhóm của H5. Cả nhóm cầm theo hung khí, điều khiển xe máy tốc độ cao, lạng lách, bấm còi inh ỏi đuổi theo 02 đối tượng trên theo hướng phố Trần Nhân T5 - N - Đ. Khi đi đến khu vực gần chân cầu vượt Đ1, nhóm của Nguyễn Gia H5 gặp Nguyễn Sỹ T2 (SN: 2005; HKTT: Bảo Lộc 1,T, P, H) điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu trắng chở theo Nghiêm Hoàng Gia H2 (SN: 2008; HKTT: 241/36 ngõ C, quận Đ, Hà Nội) và 01 xe máy do bạn của T2 điều khiển đi ngược chiều. Khi nhìn thấy nhóm của H2, 02 xe máy quay đầu đi về phía Đ1 thì cả nhóm quay lại đuổi theo.

Khi đi đến ngã tư Đ1, nhóm của Nguyễn Gia H5 ép được xe máy của Nguyễn Sỹ T2, N3 Hoàng Gia H2 dừng lại và đứng quây xung quanh. Sau đó, có 4 người xông vào đánh Nguyễn Sỹ T2, còn N3 Hoàng Gia H2 thì xuống xe bỏ chạy. Cụ thể:

- Nguyễn Hữu P1 H4 cầm dao tông nhưng không chém, dùng chân phải đạp vào vai của T2

- Vũ Hồng Q dùng tay phải ném vỏ chai bia trúng người T2.

- 02 nam thanh niên nhóm của Nguyễn Gia H5 xông vào đấm, đá, chém; 01 nam thanh niên (chưa xác định được nhân thân) điều khiển xe Wave màu vàng cam đâm vào Nguyễn Sỹ T2 đang nằm dưới vỉa hè.

- Phan Văn M cầm theo vỏ chai bia đứng cùng Bùi Thiện K nhưng không tham gia đánh T2.

Lúc này, Nguyễn Gia H5 nói đánh nhầm người nên cả nhóm dừng lại và lên xe giải tán ra về.

Ngày 13/01/2023, anh Nguyễn Sỹ T2, N3 Hoàng Gia H2 đến Công an phường C trình báo sự việc trên. Anh T2, H2 đều có đơn từ chối khám thương và giám định thương tích do không bị thương tích gì.

Ngày 01/02/2023, Ủy ban nhân dân phường C, quận H, Hà Nội có công văn đề nghị Công an quận H căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền để điều tra xác minh, xem xét giải quyết nội dung vụ việc theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Quốc B, Vũ Hồng Q, Nguyễn Hữu Phi H1, Phan Văn M, Bùi Thiện K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại, người chứng kiến và các tài liệu điều tra khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ được 01 USB chứa dữ liệu video clip ghi lại hình ảnh nội dung vụ việc. Ngày 08/02/2023, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với dữ liệu video clip thu giữ được. Tại Bản kết luận giám định số 834/KL-KTHS ngày 17/03/2023 của V1 - Bộ C6 kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tệp video gửi giám định. Đã trích xuất hình ảnh, đặc điểm hình ảnh dáng của các đối tượng nghi vấn xuất hiện trong tệp video mẫu cần giám định (có phụ lục 04 trang khổ giấy A4 kèm theo). Không trích xuất được hình ảnh biển kiểm soát các xe máy của các đối tượng do hình ảnh bị loá, kém chất lượng.

Đối với các đối tượng Hữu N2, Nghiêm Hoàng S1, Nguyễn Huy H4, Vũ Minh T4, Vũ Hoàng D1, Vũ Hoàng Nhật Đ, Nguyễn Gia H5 và 02 nam thanh niên cầm dao tông điều khiển xe máy Honda Wave chửi nhóm của G, quá trình điều tra vụ án chưa xác định nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý.

Tại bản cáo trạng số 228/CT/VKS-HS ngày 12/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trưng truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc B, Phan Văn M, Nguyễn Hữu Phi H1, Bùi Thiện K, Vũ Hồng Q về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà:

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì các bị cáo đã ăn năn hối cải.

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Phan Văn M – Bà Võ Thị L có ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo M có cơ hội ở nhà, sửa chữa sai lầm.

Đại diện hợp pháp cho bị cáo Vũ Hồng Q – Ông Vũ Hồng P có ý kiến: Bị cáo Q trẻ người non dạ. Đây là lần đầu bị cáo Q phạm tội, mong Hội đồng xét xử khoan hồng để bị cáo Q có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và trở thành người tốt cho xã hội.

- Trợ giúp viên pháp lý – Bà Đinh Thị Phương M1 bào chữa cho bị cáo Phan Văn M có ý kiến: Đồng tình với ý kiến của Viện kiểm sát về cáo trạng và luận tội. Trong vụ án này bị cáo bị bạn rủ rê lôi kéo, không phải giải quyết mâu thuẫn của nhóm mình nhưng vẫn đồng ý đi. Như vậy, ở lứa tuổi của bị cáo dưới 18 tuổi, đó là lứa tuổi đang rất muốn thể hiện bản thân mình đang trưởng thành tuy nhiên chưa suy nghĩ và lường trước được những hậu quả có thể xảy ra đối với hành vi của mình gây ra sẽ phải chịu hậu quả pháp lý như thế nào. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có công với cách mạng, ông nội bị cáo có nhiều năm trong chiến trường và được tặng thưởng Huy chương “Cựu chiến binh Việt Nam”, đề nghị áp dụng: Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 90, Điều 91, Điều 101 BLHS cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Trợ giúp viên pháp lý - Bà Nghiêm Thị N1 bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu Phi H1 có ý kiến: Đồng tình với ý kiến của Viện kiểm sát về tội danh. Khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo Nguyễn Hữu P1 H1 mới 17 tuổi 02 tháng 24 ngày. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn, hối cải. Mẹ bị cáo là mẹ đơn thân, bị cáo lớn lên trong sự dạy bảo của mẹ nên thiếu thốn tình cảm. Do dịch covid kéo dài, sống trong thế giới ảo trên mạng, sử dụng máy tính nhiều ảnh hưởng đến nhận thức và dễ bị bạn bè rủ rê, lôi kéo. Trong vụ án này, bị cáo tham gia với vai trò thứ yếu, không chuẩn bị hung khí, không có tổ chức, vai trò giản đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Trợ giúp viên pháp lý - Bà Nguyễn Thị L2 bào chữa cho bị cáo Vũ Hồng Q có ý kiến: Nhất trí về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo. Khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo Vũ Hồng Q đang ở độ tuổi vị thành niên, ở độ tuổi sự phát triển tâm sinh lý còn khá phức tạp, dễ bị dụ dỗ, lôi kéo, hiệu ứng đám đông. Chính vì vậy mà khi bạn bè rủ đi đánh nhau, bị cáo đã đồng ý. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo có bề dầy truyền thống cách mạng, cụ nội là liệt sỹ, bà nội có huân chương kháng chiến hạng ba, bố bị cáo có huân chương kháng chiến vẻ vang. Ngoài ra, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mẹ bị cáo mất sớm khi bị cáo 6 tuổi, bố ốm đau suy thận mãn tính, tiểu thường, huyết áp thường xuyên nhập viện, hiện bị cáo Q là người chăm sóc chính cho bố khi ốm đau. Đề nghị Hội đồng áp dụng: Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, có cơ hội làm lại cuộc đời.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. + Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B: 30 (Ba mươi) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt của bản án hình sự số 24/2023/HS-ST ngày 24/04/2023 Toà án nhân dân Huyện Đan Phượng xử phạt 06 tháng tù về tội cố ý làm hư hỏng tài sản và bản án hình sự số 106/2023/HSST ngày 28 tháng 09 năm 2023 Toà án nhân dân Huyện Ba Vì xử 09 năm tù về tội cướp tài sản. Tổng hợp bản án buộc bị cáo phải chấp hành chung của ba bản án là 12 (Mười hai) năm tù đến 12 (Mười hai) năm 6 (S2) tháng tù.

- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. + Xử phạt bị cáo Phan Văn M: 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù.

- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 56, Điều 90, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Phi H1: 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Tổng hợp với bản án hình sự phúc thẩm số 358 ngày 27/04/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử 32 tháng tù về tội cố ý gây thương tích và bản án 87 ngày 24/5/2023 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 28 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp bản án buộc bị cáo phải chấp hành chung của ba bản án là 6 (Sáu) năm 6 (Sáu) tháng tù đến 7 (Bảy) năm tù.

- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Bùi Thiện K: 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng đến 60 (Sáu mươi) tháng.

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Vũ Hồng Q: 18 (Mười tám) tháng tù đến 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng 48 (Bốn mươi tám) tháng.

-Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Sỹ T2, anh N3 Hoàng Gia H2 đều có đơn từ chối khám thương và giám định thương tích do không bị thương tích gì và không có đề nghị gì về dân sự đối với các bị cáo nên không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Không

- Về các vấn đề khác: Đối với các đối tượng Hữu N2, Nghiêm Hoàng S1, Nguyễn Huy H4, Vũ Minh T4, Vũ Hoàng D1, Vũ Hoàng Nhật Đ, Nguyễn Gia H5 và 02 nam thanh niên cầm dao tông điều khiển xe máy Honda Wave chửi nhóm của G, quá trình điều tra vụ án chưa xác định nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý nên không xem xét.

Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ đã được chứng minh. Thấy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 22h20’ ngày 12/01/2023, Nguyễn Quốc B, Nguyễn Hữu Phi H1, Vũ Hồng Q, Bùi Thiện K, Phan Văn M cùng nhóm đối tượng cầm theo hung khí là dao tông, vỏ chai bia điều khiển khoảng 10 xe máy đi với tốc độ cao, lạng lách, bấm còi inh ỏi đuổi đánh 02 thanh niên theo hướng từ phố T - N - Đ. Khi đến khu vực ngã tư phố Đ V - B, cả nhóm đã đuổi đánh, chặn dừng xe và lao vào dùng chân tay không đánh, ném vỏ chai bia vào anh Nguyễn Sỹ T2, Nghiêm Hoàng Gia H2 gây mất an ninh trật tự, an toàn công cộng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội "Gây rối trật tự công cộng", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội … thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a,…

b, Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;

…”

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng truy tố các bị cáo về tội "Gây rối trật tự công cộng" theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 là có căn cứ.

Hành vi điều khiển xe máy với tốc độc cao, lạng lách, bóp còi inh ỏi, cầm dao tông, vỏ chai bia đuổi đánh hai thanh niên theo hướng từ phố T - N - Đại Cồ V của các bị cáo gây náo loạn đường phố, bất bình trong quần chúng nhân dân đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng hoạt động bình thường của mọi người dân. Hậu quả nghiêm trọng ở đây là gây nguy hiểm cho người đang lưu thông trên đường, gây náo động làm mất trật tự, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự trị an của khu dân cư, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân trên địa bàn các phường thuộc quận H, Hà Nội. Do vậy, việc truy tố và xét xử các bị cáo là cần thiết để có tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. [3]. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Quốc B và các đồng phạm cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Bị cáo Nguyễn Quốc B: Là chủ mưu lúc đầu rủ Vũ Hồng Q, Nguyễn Hữu Phi H1, Phan Văn M, Bùi Thiện K đi đánh nhau giải quyết mâu thuẫn giúp B. Khi không gặp được nhóm mâu thuẫn với B thì B lại đồng ý với Nguyễn Gia H5 rủ đi đánh nhau ở phố K và lại rủ theo các bị cáo đi theo mình. Mặc dù không phải là người chuẩn bị hung khí và không đánh Nguyễn Sỹ T2 và N3 Hoàng Gia H2 nhưng bị cáo là người lái xe chở bị cáo Vũ Hồng Q cầm theo 01 vỏ chai bia tăng ga đuổi theo, bấm còi và ép xe anh Nguyễn Sỹ T2 và Nghiêm Hoàng Gia H2.

Bị cáo Phan Văn M: Khi bị cáo B rủ đi đánh nhau thì bị cáo M đã đồng ý tham gia và M là người thông báo lại cho cả nhóm đi đánh nhau. M là người ngồi sau xe máy của Vũ Hoàng Nhật Đ và cầm theo vỏ chai bia đi đánh nhau. Mặc dù bị cáo dừng lại lòng đường và không ném vỏ chai bia vào T2 và H2 nhưng bị cáo và Đ cũng đi xe máy với tốc độ cao, lạng lách, bấm cỏi inh ỏi đuổi theo và ép xe của Nguyễn Sỹ T2 và N3 Hoàng Gia H2 dừng lại đứng quây xung quanh.

Bị cáo Nguyễn Hữu Phi H1: Khi được B rủ đi đánh nhau thì H1 cũng đồng ý tham gia. Bị cáo đã ngồi sau xe của Nguyễn Huy H4 chở và cầm theo 01 dao tông được Nguyễn Gia H5 chia cho và mang đi đánh nhau. Khi đi đến ngã tư Đ V- B đã ép xe của nhóm Nguyễn Sỹ T2 và Nghiêm Hoàng Gia H2 đứng lại, quây xung quanh. Mặc dù, bị cáo không dùng dao chém nhưng bị cáo đã dùng chân phải đạp vào vai của T2.

Bị cáo Bùi Thiện K: Khi được B rủ đi đánh nhau thì K đồng ý tham gia và cùng Hữu N2 ép xe của nhóm Nguyễn Sỹ T2 và Nghiêm Hoàng Gia H2 đứng lại và quây xung quanh. Bị cáo có đứng cùng Phạm Văn M2 nhưng không tham gia đánh nhau.

Bị cáo Vũ Hồng Q: Khi được B rủ đi đánh nhau thì Q cũng đã đồng ý tham gia.Vũ Hồng Q được Nguyễn Quốc B chở bằng xe máy và cầm theo một vỏ chai bia để đi đánh nhau. Ngoài ra, bị cáo đã dùng tay phải ném vỏ chai bia trúng người T2. Như vậy, có thể thấy các bị cáo đều có những vai trò khác nhau khi thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử sẽ xem xét vai trò, trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo trong vụ án để đưa ra một mức án phù hợp với từng hành vi của các bị cáo gây ra.

. Xét nhân thân các bị cáo:

Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Quốc B: Bị cáo có nhân thân xấu: Tại Bản án hình sự số 106/2023/HSST ngày 28/09/2023 Toà án nhân dân Huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xử 09 năm tù về tội cướp tài sản. Tổng hợp với hình phạt của bản án hình sự số 24/2023/HS-ST ngày 24/04/2023 Toà án nhân dân Huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội xử là 6 (Sáu) tháng tù về tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án là 9 (Chín) năm 6 (Sáu) tháng tù, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trại giam T8, Thanh Hóa. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần tổng hợp hình phạt của bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Do bị cáo Nguyễn Quốc B thực hiện hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng trong bản án này trước khi xét xử bản án trên nên không thuộc trường hợp tái phạm quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét nhân thân bị cáo Phan Văn M: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi 17 tuổi 01 tháng 6 ngày. Ngày 25/07/2023 bị Toà án nhân dân quận H xử 12 tháng tù về tội gây rối trật tự công cộng, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam N4, N. Ngày 18/01/2024 bị Toà án nhân dân Huyện Thanh Trì xử 18 (Mười tám) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Tổng hợp 12 (Mười hai) tháng tù của bản án số 146/2023/HS-ST ngày 25/07/2023 của Toà án nhân dân quận H, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 30 (B) tháng tù. Do bị cáo Phan Văn M thực hiện hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng trong bản án này trước khi xét xử bản án trên nên không thuộc trường hợp tái phạm quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã bị tổng hợp hình phạt tại bản án hình sự số 10/2024/HSST ngày 18/01/2024 của Toà án nhân dân Huyện T nên Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng không tổng hợp hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy, trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, Ông nội của bị cáo là thương binh và có công với nhà nước nên Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Hữu Phi H1: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi 17 tuổi 02 tháng 6 ngày. Ngày 17/01/2023 bị Toà án nhân dân quận H xử phạt 38 tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Ngày 27/04/2023, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phúc thẩm 32 tháng tù về tội cố ý gây thương tích. Ngày 24/5/2023, Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử phạt 28 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tổng hợp hình phạt của bản án số 358 ngày 27/04/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, hình phạt chung là 60 tháng tù, bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hiện bị cáo đang chấp hành án tại trại giam S3, B. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần tổng hợp hình phạt của bản án theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Do bị cáo Nguyễn Hữu Phi H1 thực hiện hành vi phạm tội gây rối trật tự công cộng trong bản án này trước khi xét xử bản án trên nên không thuộc trường hợp tái phạm quy định tại Điều 53 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận chính quyền địa phương, mẹ bị cáo được tặng giấy khen có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua của UBND phường T, quận H, Hà Nội nên Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét nhân thân bị cáo Bùi Thiện K: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ thường xuyên phải vào bệnh viện điều trị có xác nhận của chính quyền địa phương và hồ sơ khám chữa bệnh nên Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét thấy bị cáo Bùi Thiện K có nơi cư trú rõ ràng, không cần phải thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội nhưng bị cáo cũng phải chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú trong thời gian thử thách.

Xét nhân thân bị cáo Vũ Hồng Q: Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu khi 16 tuổi 02 tháng 6 ngày. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bố bị cáo được Chủ tịch nước tặng huân chương quân kỳ quyết thắng, gia đình liệt sỹ, hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, bố bị suy thận độ II, đái tháo đưởng tuýp 2, mẹ mất sớm bị ung thư nên Hội đồng xét xử xem xét và giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét thấy bị cáo Vũ Hồng Q có nơi cư trú rõ ràng, không cần phải thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội nhưng bị cáo cũng phải chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú trong thời gian thử thách.

.Về trách nhiệm dân sự:

Anh Nguyễn Sỹ T2, anh N3 Hoàng Gia H2 đều có đơn từ chối khám thương và giám định thương tích do không bị thương tích gì và không có đề nghị gì về dân sự đối với các bị cáo nên không xem xét. [6]. Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Về xử lý vật chứng: Không Về vấn đề khác: Đối với các đối tượng Hữu N2, Nghiêm Hoàng S1, Nguyễn Huy H4, Vũ Minh T4, Vũ Hoàng D1, Vũ Hoàng Nhật Đ, Nguyễn Gia H5 và 02 nam thanh niên cầm dao tông điều khiển xe máy Honda Wave chửi nhóm của G, quá trình điều tra vụ án chưa xác định nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình sự để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý nên không xem xét.

. Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ những nhận định trên!

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc B, Phan Văn M, Nguyễn Hữu Phi H1, Bùi Thiện K, Vũ Hồng Q phạm tội: “Gây rối trật tự công cộng”.

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Quốc B 30 (Ba mươi) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt của bản án hình sự số 24/2023/HS-ST ngày 24/04/2023 Toà án nhân dân Huyện Đ xử phạt 06 tháng tù về tội cố ý làm hư hỏng tài sản và bản án hình sự số 106/2023/HSST ngày 28 tháng 09 năm 2023 Toà án nhân dân Huyện B là 09 năm tù về tội cướp tài sản. Buộc bị cáo phải chấp hành chung của ba bản án là: 12 (Mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/03/2023.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 104 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Phan Văn M 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 56, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 104 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hữu Phi H1 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt của bản án hình sự phúc thẩm số 358 ngày 27/04/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử 32 tháng tù về tội cố ý gây thương tích và bản án 87 ngày 24/5/2023 của Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng xử 28 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của ba bản án là: 6 (Sáu) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/01/2023 (được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/4/2021 đến ngày 29/04/2021 của bản án hình sự phúc thẩm số 358/2023/HS-PT ngày 27/04/2023 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội).

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Bùi Thiện K: 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Căn cứ : Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 101, Điều 104, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Vũ Hồng Q: 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, quận Đ, thành phố Hà Nội để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, các bị cáo Bùi Thiện K, Vũ Hồng Q cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

2. Về xử lý vật chứng: Không

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Quốc B, Phan Văn M, Nguyễn Hữu Phi H1, Bùi Thiện K, Vũ Hồng Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ