vanban.org

Bản án 14/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 04/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T 06 (sáu) tháng 07 (bảy) ngày tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 31/8/2023. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng Tư - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TƯ NGHĨA
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST
Ngày 04/3/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯ NGHĨA, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ngân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng ơn.

2. Ông Võ Văn Nhân.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hồng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 3 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXX T-HS ngày 26/01/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/H T-QĐ ngày 02/02/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hồng T (tên gọi khác: không), sinh ngày 28 tháng 7 năm 1992 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn PNT, xã TP, huyện T, tỉnh QN; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn X chết) và bà Võ Thị P; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 16/7/2018, Nguyễn Hồng T bị Công an huyện ơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi ra Quyết định xử phạt hành chính số: 05/QĐ-XPCPHC với số tiền 2.500.000đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác. Nguyễn Hồng T đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/8/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Phạm Thị Thu , sinh năm 1984, trú tại: Thôn AH1, xã NT, huyện TN, tỉnh QN có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 30/8/2023, Nguyễn Hồng T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76H1–034.75 đến quầy thuốc tây PU địa chỉ tại thôn AH1, xã NT, huyện TN, tỉnh QN) do bà Phạm Thị Thu làm chủ để mua thuốc. Phát hiện tại quầy không có người trông coi nên T giả vờ nghe điện thoại và lén lút đi đến tủ quầy thuốc, dùng tay phải mở cửa tủ và lấy hết số tiền trong tủ bỏ vào túi quần rồi nhanh chóng định lên xe tẩu thoát thì bị chủ nhà phát hiện hô hoán cùng người dân xung quanh bắt giữ và báo lực lượng Công an đến làm việc. Qua kiểm tra, T đã trộm cắp số tiền tổng cộng là 4.840.000đ Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).

* Về thu giữ, xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô, biển kiểm soát: 76H1-034.75 do bà Nguyễn Thị Đề T, sinh năm 1960, trú tại khu dân cư PT, tổ dân phố VB, phường PN, thị xã ĐP, tỉnh QN mua và đứng tên chủ sở hữu. Bà Thành đã giao xe mô tô trên cho con rể tên là Nguyễn Văn L, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố LB, phường PN, thị xã ĐP, tỉnh QN để làm phương tiện đi lại. Anh L đưa xe môtô này cho Nguyễn Hồng T mượn vào ngày 29/8/2023. Bà T và anh L đều không biết việc bị cáo sử dụng xe đi trộm cắp tài sản, Cơ quan C ĐT đã trả lại xe trên cho bà T, bà T không có yêu cầu gì thêm.

- Đối với số tiền 4.840.000 đồng: Cơ quan C ĐT Công an huyện Tư Nghĩa đã trả lại cho bị hại Phạm Thị Thu . Bị hại không yêu cầu gì thêm.

- Đối với 01 một) U B 16GB, hiệu Kingston, bên trong chứa 01 đoạn video có tên “Đoạn phim ngày 30.8.2023”: dữ liệu điện tử được lưu trữ trong U B về nội dung diễn biến của vụ án nên cần tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ.

Quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác.

Tại cáo trạng số: 35/CT-VKS-TN ngày 13/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa truy tố bị cáo Nguyễn Hồng T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng Tư từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”.

- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tình tiết liên quan đến vụ án: Trong quá trình điều tra, Nguyễn Hồng T còn khai nhận vào sáng ngày 30/8/2023, bị cáo trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 10C màu xanh tại nhà nghỉ HP phường TQT, thành phố QN). Cơ quan C ĐT Công an huyện Tư Nghĩa đã chuyển cho Cơ quan C ĐT Công an thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xử lý theo thẩm quyền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng hình sự:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tư Nghĩa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Về xét xử vắng mặt bị hại: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXX T-HS ngày 26/01/2024 cho bị hại bà Phạm Thị Thu S; tuy nhiên, bà ương đã có đơn xin vắng mặt. au khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử xét thấy bị hại đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên không cần thiết phải hoãn phiên tòa. Căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại là đúng quy định của pháp luật.

. Về giới hạn việc xét xử: Quá trình tố tụng, Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì xét thấy tổng giá trị tài sản mà bị cáo trộm cắp trong ngày 30/8/2023 là 6.340.000 đồng gồm: địa bàn huyện Tư Nghĩa 4.840.000 đồng, địa bàn thành phố Quảng Ngãi 1.500.000 đồng). Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa giữ nguyên quan điểm truy tố, cho r ng hành vi trộm cắp của bị cáo đối với chiếc điện thoại trị giá 1.500.000 đồng đã được Công an thành phố Quảng Ngãi xử lý, ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Vì vậy, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử theo giới hạn quy định tại Điều 298 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.

. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 00 ngày 30/8/2023, Nguyễn Hồng T điều khiển xe môtô biển kiểm soát 76H1–034.75 đến quầy thuốc tây PU địa chỉ tại xã NT, huyện TN) do bà Phạm Thị Thu làm chủ để mua thuốc. Lợi dụng sự sơ hở của chủ tiệm thuốc, bị cáo đã lén lút trộm cắp số tiền 4.840.000đ Bốn triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Tư Nghĩa đã truy tố để xét xử bị cáo theo điều luật đã viện dẫn nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe và công việc nhưng không lo làm ăn lương thiện mà thực hiện hành vi trộm cắp để có tiền tiêu xài cá nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục bị cáo thành người công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội.

. Xét về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; do đó, áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Ngoài ra, bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo là phù hợp.

. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

. Đối với hành vi của bị cáo trộm cắp chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 10C màu xanh tại nhà nghỉ HP phường TQT, thành phố QN, tỉnh QN), Cơ quan C ĐT Công an thành phố Quảng Ngãi đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về xử lý vật chứng:

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát: 76H1-034.75 do bà Nguyễn Thị Đề T đứng tên chủ sở hữu, bà T đã giao xe cho anh Nguyễn Văn L mượn để làm phương tiện đi lại. Anh L cho bị cáo mượn xe này vào ngày 29/8/2023. Bà T và anh L đều không biết việc bị cáo sử dụng xe đi trộm cắp tài sản, Cơ quan C ĐT đã trả lại xe trên cho bà T, bà T không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với số tiền 4.840.000 đồng: Cơ quan C ĐT Công an huyện Tư Nghĩa đã trả lại chobị hại bà Phạm Thị Thu . Bị hại không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 một) U B 16GB, hiệu Kingston, bên trong chứa 01 đoạn video có tên “Đoạn phim ngày 30.8.2023”: dữ liệu điện tử được lưu trữ trong U B về nội dung diễn biến của vụ án nên cần tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ.

. Xét các ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hồng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T 06 (sáu) tháng 07 (bảy) ngày tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 31/8/2023. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt.

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Hồng T phải chịu 200.000đ Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 336, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ