- Tranh chấp gì? án hình sự — "Kiều Thị Th trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Kiều Thị Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT - TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2024/HS-ST Ngày: 22 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TT – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Yên.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Miến
Ông Bùi Đăng Lý
Thư ký phiên tòa án nhân dân huyện TT: Bà Hoàng Thị Hải Uyến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TT tham gia phiên tòa: Ông Triệu Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TT xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 186/2023/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
KIỀU THỊ TH, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1980 tại huyện QO, thành phố Hà Nội; nơi ĐKTT: Thôn PT, xã KT, huyện BV, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Kiều Doãn Đ (đã chết) và con bà Kiều Thị T (đã chết); có chồng Nguyễn Chí T1; có 03 con: Lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không.
Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Đỗ Thị O, sinh năm 1989; (Vắng mặt tại phiên toà);
Địa chỉ: Thôn 4, xã CN, huyện TT, thành phố Hà Nội;
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Chí T1, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Thôn PT, xã KT, huyện BV, thành phố Hà Nội;
(Có mặt tại phiên toà);
Người làm chứng:
- Ông Đặng Trung B, sinh năm 1953 (vắng mặt tại phiên toà);
Địa chỉ: Thôn S, xã HB, huyện TT, thành phố Hà Nội;
- Anh Phạm Văn B1, sinh năm 1978 (Vắng mặt tại phiên toà);
Đia chỉ: Thôn BM, xã HB, huyện TT, thành phố Hà Nội;
- Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1992 (Vắng mặt tại phiên toà); Địa chỉ: Thôn B, xã HB, huyện TT, thành phố Hà Nội;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 06/10/2023, Kiều Thị Th mang 01 chiếc xe đạp mini cũ, màu đen bạc từ nhà đến khu vực xã HB – huyện TT với mục đích để đi tìm việc làm trong các xưởng làm đồ mộc ở xã HB. Sau đó bị cáo Th gửi chiếc xe đạp ở khu chăn nuôi của ông Đặng Trung B ở thôn S - HB, huyện TT, thành phố Hà Nội. Khoảng 09 giờ ngày 07/10/2023, bị cáo Th điều khiển xe máy nhãn hiệu Sirius, màu trắng, BKS: 29F1- 412.25 để đi từ nhà đến xã HB - TT. Khi đến nơi, bị cáo Th để xe máy ở lề đường thuộc thôn B - HB và đi bộ đến khu chăn nuôi của ông B lấy xe đạp gửi trước đó và điều khiển xe đạp đi vòng quanh xã HB để hỏi tìm việc làm. Đến khoảng 10 giờ 30 cùng ngày, bị cáo Th đến xưởng sản xuất nội thất của anh Phan Văn B1 để hỏi xin việc. Khi đến nơi, bị cáo Th dựng xe đạp ở cửa xưởng và đi vào trong, nhưng khi đó không có ai ở trong xưởng. Bị cáo Th nhìn thấy 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A58, dung lượng 08Gb, màu đen, số IMEI: 865039065820310 là điện thoại của chị Đỗ Thị O công nhân của xưởng đang để trên mặt bàn phía bên phải cửa xưởng. Bị cáo Th nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và đã lấy chiếc điện thoại này cất vào trong túi quần bên phải rồi đi ra khỏi xưởng. Bị cáo Th điều khiển xe đạp đi đến xưởng sản xuất của chị Đỗ Thị H gửi chiếc xe đạp và đi bộ đến khu vực để xe máy trước đó lấy xe đi về. Khi đến nơi, bị cáo Th kiểm tra túi quần thì phát hiện chiếc điện thoại đã bị rơi mất. Sau đó bị cáo Th điều khiển xe máy đi về nhà.
Khoảng 10 giờ 50 phút ngày 07/10/2023, chị O phát hiện mình bị mất điện thoại nên đã nhờ anh Phan Văn B1 kiểm tra lại hệ thống camera giám sát xem có ai lấy chiếc điện thoại của chị O không thì phát hiện bị cáo Th mặc áo sơ mi dài tay màu đỏ, quần dài tối màu, đội mũ viền tròn màu vàng đã lấy chiếc điện thoại của chị O. Sau đó chị O đã đăng đoạn video trích xuất từ camera xưởng của anh B1 có hình ảnh bị cáo Th lấy chiếc điện thoại của mình lên mạng xã hội để nhờ tìm ra người đã lấy chiếc điện thoại của O. Đến khoảng 10 giờ ngày 08/10/2023, bị cáo Th đến xưởng của chị H để lấy xe đạp thì chị H phát hiện bị cáo Th có đặc điểm giống với người đã lấy trộm điện thoại của chị O nên chị H đã giữ bị cáo Th lại và đưa bị cáo Th lên trụ sở Công an xã HB để làm rõ.
* Tang vật thu giữ:
- 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đỏ xậm, có kẻ xọc xanh, trắng, phía sau lưng có chữ “STRAIGHT UP PUTS ME STRAIGHT DOWN” màu trắng.
- 01 (một) quần dài tối màu có nhiều hình dạng không xác định.
- 01 (một) mũ viền tròn màu vàng nâu trên mũ có ký kiệu logo “js HAT”
- 01 (một) xe đạp mini màu đen bạc có giỏ xe màu ghi bạc, yên xe màu đen, trên khung xe có chữ FREE và ASAMA màu trắng.
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Sirius, màu trắng đen, BKS: 29F1- 412.25, số khung: RLCUE3240HY074532, số máy: E3X9E194938.
- 01 (một) đoạn video trích từ camera ghi hình số 05 tại xưởng sản xuất nội thất của anh Phan Văn B1 ở thôn BM - TT có thời lượng 01 phút 01 giây từ thời điểm 10 giờ 37 phút 48 giây ngày 07/10/2023 đến 10 giờ 38 phút 48 giây ngày 07/10/2023 (thời gian trên camera chậm hơn 14 phút so với thời gian thực tế).
- 01 (một) đoạn video trích từ camera ghi hình số 06 tại xưởng sản xuất nội thất của anh Phan Văn B1 ở thôn BM - TT có thời lượng 01 phút 01 giây từ thời điểm 10 giờ 37 phút 51 giây ngày 07/10/2023 đến 10 giờ 38 phút 52 giây ngày 07/10/2023 (thời gian trên camera chậm hơn 14 phút so với thời gian thực tế).
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 90/KL - HĐĐG ngày 12/10/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng Hình sự huyện TT, kết luận:
- 01 (một) điện thoại Oppo A58, dung lượng 08Gb, màu đen, số IMEI: 865039065820310, mua mới ngày 25/9/2023 với giá 5.690.000đ (năm triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng), tài sản đã qua sử dụng đến ngày 07/10/2023 có giá trị là: 3.900.000đ (Ba triệu chín trăm nghìn đồng)
- 01 (một) ốp điện thoại của chiếc điện thoại Oppo A58, chất liệu bằng nhựa, viền màu đen, nền màu xám, trên bề mặt có dòng chữ: “NASA”, hình phi hành gia và các ngôi sao màu trắng trong khung hình vuông màu đen, tài sản đã qua sử dụng đến ngày 07/10/2023 có giá trị là: 22.000đ (Hai mươi hai nghìn đồng).
Tổng giá trị của 02 tài sản trên là 3.922.000đ (Ba triệu chín trăm hai mươi hai nghìn đồng).
Tại Bản cáo trạng số 186/CT-VKS ngày 29/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện TT truy tố Kiều Thị Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện TT đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Kiều Thị Th từ 06 đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 16 tháng.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tang vật: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đỏ xậm, có kẻ xọc xanh, trắng, phía sau lưng có chữ “STRAIGHT UP PUTS ME STRAIGHT DOWN” màu trắng. 01 (một) quần dài tối màu có nhiều hình dạng không xác định. 01 (một) mũ viền tròn màu vàng nâu trên mũ có ký kiệu logo “js HAT”.
Trả lại bị cáo 01 xe đạp mini màu đen bạc có giỏ xe màu ghi bạc, yên xe màu đen, trên khung xe có chữ FREE và ASAMA màu trắng.
Bị cáo nói lời sau cùng trước khi tuyên án: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện TT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện TT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa, bị cáo Khuất Thị Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã thừa nhận khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/10/2023 bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo, dung lượng 08Gb, màu đen trị giá: 3.922.000 đồng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Bị cáo có hành vi Trộm cắp tài sản trị giá 3.922.000 đồng. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện TT truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng tại địa phương, tính chất mức độ phạm tội và hậu quả xảy ra là ít nghiêm trọng nên cần có biện pháp xử lý nghiêm để răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
Hội đồng xét xử, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả nên áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị hại có đơn xin giảm truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo như đã phân tích. Hội đồng xét xử, xét thấy bị cáo có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng, nhiều tình tiết giảm nhẹ không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cho hưởng án treo cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 6.000.000đồng (sáu triệu đồng) và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng:
- 01 áo sơ mi dài tay màu đỏ xậm, có kẻ xọc xanh, trắng, phía sau lưng có chữ “STRAIGHT UP PUTS ME STRAIGHT DOWN” màu trắng.
- 01 quần dài tối màu có nhiều hình dạng không xác định.
- 01 mũ viền tròn màu vàng nâu trên mũ có ký kiệu logo “js HAT”
Những tài sản trên là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 xe đạp mini màu đen bạc có giỏ xe màu ghi bạc, yên xe màu đen, trên khung xe có chữ FREE và ASAMA màu trắng trả lại cho bị cáo.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Kiều Thị Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 điều 173, điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Kiều Thị Th 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã KT, huyện BV, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 6.000.000đồng (sáu triệu đồng) và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) áo sơ mi dài tay màu đỏ xậm, có kẻ xọc xanh, trắng, phía sau lưng có chữ “STRAIGHT UP PUTS ME STRAIGHT DOWN” màu trắng.
- 01 (một) quần dài tối màu có nhiều hình dạng không xác định.
- 01 (một) mũ viền tròn màu vàng nâu trên mũ có ký kiệu logo “js HAT”.
Trả lại bị cáo 01 xe đạp mini màu đen bạc có giỏ xe màu ghi bạc, yên xe màu đen, trên khung xe có chữ FREE và ASAMA màu trắng.
Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án năm 2016 bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ./. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TANDTPHN; VKSNDTPHN;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- CA, VKSND, THA huyện TT;
- Bị cáo, người bị hại;
- Ủy ban nhân dân xã KT, huyện BV;
- Lưu HS, VP.
Nguyễn Thị Ngọc Yên CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TANDTPHN; VKSNDTPHN;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- CA, VKSND, THA huyện TT;
- Bị cáo, người bị hại;
- Ủy ban nhân dân xã Phùng Xá;
- Lưu HS, VP.
Nguyễn Thị Ngọc Yên CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TANDTPHN; VKSNDTPHN; - CA, VKSND, THA huyện TT; - Bị cáo, người bị hại; - UBND xã Quế Thuận, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam; - Lưu HS, VP. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc Yên THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |