vanban.org

Bản án 14/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 01/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Tống Văn T phạm tội “Cướp tài sản” và Cướp giật tài sản”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Tống Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 28/02/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tống Văn T - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Tống Văn T phạm tội “Cướp tài sản” và Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN BIÊN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HS-ST
Ngày: 01-3-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thân;

2. Ông Trần Văn Tảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hào - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2024 đối với bị cáo:

Tống Văn T, sinh năm 1996 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp 4, xã Trà Vong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Văn C và bà Hà Thị Lý; bị cáo có vợ Trần Thị Kim B và 01 con; tiền án: Không có; tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 28/02/2023 đến ngày 09/3/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay, có mặt.

- Bị hại:

1. Anh Ngô Văn T, sinh năm 2002; nơi cư trú: ấp Thạnh Tr, xã Thạnh T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Tấn Th, sinh năm 1984; nơi cư trú: ấp Phước A, xã Phước M, huyện Dương Minh Ch, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

3. Anh Ngô Bá H, sinh năm 1999; nơi cư trú: khu phố 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đoàn Thị Như L, sinh năm 1985; nơi cư trú: khu phố 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để có tiền tiêu xài cá nhân, Tống Văn T đã 03 lần dùng mạng xã hội Zalo để đăng nhập tài khoản có tên “PhiêuLuu” để tìm kiếm và kết bạn với những nam giới thuộc người đồng tính để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. T dùng thủ đoạn là lừa những bị hại đến nơi vắng vẻ, ít người qua lại để thực hiện hành vi cướp tài sản. Từ ngày 15/02/2023 đến ngày 27/02/2023, T đã thực hiện 03 vụ cướp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 15/02/2023, T mượn điện thoại của vợ là Trần Thị Kim B, sinh năm 2000, ngụ ấp 4, xã Trà V, huyện T, tỉnh Tây Ninh nhắn tin làm quen với Ngô Văn T, sinh năm 2002, ngụ ấp Thạnh Tr, xã Thạnh T, huyện T, tỉnh Tây Ninh có nick name “T” và hẹn T đến khu vực bờ kênh thuộc ấp 3, xã Trà V, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh để gặp mặt thì T đồng ý. Đến khoảng 23 giờ 25 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô đến và chở T đi vào điểm hẹn. Đến nơi, T thấy T có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max và 01 mắt kính cận lên trên yên xe nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. T nói với T là đầu của T hôi nên kêu T xuống kênh nước để gội đầu. Khi T khom người gội đầu thì T nhanh chóng lấy điện thoại của T bỏ chạy về nhà và làm rớt mắt kính cận của T. Khi lấy được điện thoại, T đăng nhập vào mạng xã hội Facebook của T giả là T để nhắn tin cho 07 người nhằm lừa đảo mượn tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng nhưng không ai cho mượn. T dùng nick Facebook khác nhắn tin vào nick của T do T đang sử dụng và yêu cầu T trả lại điện thoại. T kêu T chuyển cho T 2.000.000 đồng mới trả lại điện thoại thì T đồng ý và kêu khi nào đủ tiền sẽ chuyển. Do không nhận được tiền nên T bán điện thoại cho người đàn ông không rõ lai lịch với số tiền 4.200.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ hai: Ngày 22/02/2023, T nhắn tin và làm quen với Nguyễn Tấn Th, sinh năm 1984, ngụ ấp Phước A, xã Phước M, huyện Dương Minh Ch, tỉnh Tây Ninh có nick name “Cô út bđ” và hẹn Th đến khu vực bờ kênh thuộc ấp 3, xã Trà V, huyện T, tỉnh Tây Ninh để gặp mặt thì Th đồng ý. Khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, T chở Th vào đoạn bờ kênh cách chỗ cướp tài sản của T khoảng 20 mét. Tại đây T thấy Th có mang theo 01 túi xách màu đen treo trên tay cầm xe mô tô nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. T đứng nói chuyện đối diện với Th, sau đó T dùng hai tay xô mạnh vào vai của Th và dùng chân phải đạp mạnh vào chân trái của Th làm Th té ngã xuống kênh nước, liền lúc này T lấy túi xách của Th bỏ chạy về nhà. T kiểm tra bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Oppo, 6.000.000 đồng và các giấy tờ tùy thân mang tên Th, T tiếp tục đăng nhập vào mạng xã hội Zalo, Facebook của Th nhắn tin cho người quen với mục đích lừa lấy tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng nhưng không ai chuyển tiền, T tiếp tục chụp các giấy tờ tùy thân của Th thì có người nhận, T yêu cầu chuyển 2.000.000 đồng mới cho nhận lại giấy tờ nhưng không được nên đã để giấy tờ của Th tại chân cầu đoạn thuộc ấp 3, xã Trà V, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Điện thoại Oppo T bán cho người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch với số tiền 1.000.000 đồng, số tiền 6.000.000 đồng đã mua 01 điện thoại di động hiệu Iphone X và tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ ba: Khoảng 14 giờ ngày 27/02/2023, Toàn tiếp tục sử dụng cách thức như trên để nhắn tin làm quen với Ngô Bá Hg, sinh năm 1999, ngụ khu phố 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh có nick name “Phiêu Luu”. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T điều khiển xe hiệu Nouvo 4, biển số 70H1-067.91, hẹn gặp H tại thị trấn T. Do tại đây đông người không thể thực hiện hành vi cướp tài sản nên T lừa H đi đến khu vực bờ kênh thuộc ấp Xóm Th, xã Tân Ph, huyện T, tỉnh Tây Ninh để nói chuyện thì H đồng ý, H điều khiển xe mô tô biển số 70H1-523.96 chạy theo T. Đến nơi, T và H để xe trên bờ kênh rồi cùng nhau đi xuống đám mì cách nơi để xe khoảng 70 mét. Tại đây, T quan sát thấy H có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Pro Max bên trong túi áo khoác nên nảy sinh cướp chiếc điện thoại của H. Lúc này, T gợi ý quan hệ tình dục thì H đồng ý, T cởi quần short và quần lót của H ra và để xuống đám mì, T ôm H vào người. Khi thấy H mất cảnh giác thì T dùng hai tay xô mạnh làm H ngã xuống đám mì. Liền lúc này, T lấy áo khoác của H chạy lên nơi để xe và tiếp tục đạp chiếc xe SH Mode của H ngã nhằm không để H truy đuổi. Khi về nhà, T đăng nhập vào điện thoại của H rồi tiếp tục dùng mạng xã hội Facebook giả là H để nhắn tin cho người quen lừa mượn tiền. Toàn nhắn tin cho 04 người quen của Hưng thì có người di của Htên là Đoàn Thị Như L, sinh năm 1985; ngụ khu phố 2, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh đồng ý chuyển tiền, T nhắn tin số tài khoản mang tên Nguyễn Văn H để dì của H chuyển khoản số tiền 1.000.000 đồng. T tiếp tục nhắn tin làm quen với những người khác để thực hiện hành vi thì bị phát hiện bắt giữ.

Quá trình điều tra Tống Văn T đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tự thú khai nhận lần phạm tội trước đó.

Kết luận định giá tài sản:

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 03/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Tân Biên kết luận:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, dung lượng 256 GB, màu xanh, có giá trị 12.000.000 đồng.

+ 01 mắt kính cận có giá trị 600.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31, màu xanh có giá trị 4.130.000 đồng.

+ 01 túi xách có giá trị 50.000 đồng.

+ 01 ví nhỏ màu đen có giá trị 50.000 đồng.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max, dung lượng 64 GB, màu xám, có giá trị 11.700.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản 28.530.000 đồng.

* Kê biên tài sản: Tống Văn Toànkhông có tài sản riêng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không tiến hành kê biên.

* Bồi thường thiệt hại: Anh Ngô Bá H không yêu cầu bồi thường, anh Ngô Văn T yêu cầu bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, anh Nguyễn Tấn Th yêu cầu bồi thường số tiền 10.023.000 đồng, chị Đoàn Thị Như L yêu cầu bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Tống Văn T chưa bồi thường cho các bị hại.

Cáo trạng số 02/CT-VKSTB, ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Tống Văn T về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tống Văn T phạm tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản” đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 168; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tống Văn T mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

2. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Tống Văn T mức án từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự đề nghị tổng hợp hình phạt 02 tội đối với bị cáo T.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.

Bị hại vắng mặt.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Biên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về diễn biến hành vi của bị cáo:

Trong khoảng thời gian từ ngày 22/02/2023 đến ngày 27/02/2023, tại khu vực ấp 3, xã Trà V và ấp Xóm Th, xã Tân Ph, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Tống Văn T đã dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Ngô Bá H 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Pro Max trị giá 11.700.000 đồng, của anh Nguyễn Tấn Th 01 điện thoại hiệu Oppo A31 trị giá 4.130.000 đồng; 01 túi xách có giá trị 50.000 đồng; 01 ví nhỏ màu đen có giá trị 50.000 đồng và số tiền 6.000.000 đồng. Tổng cộng 21.930.000 đồng. Ngoài ra, quá trình điều tra xác định được ngày 15/02/2023, tại khu vực bờ kênh thuộc ấp 3, xã Trà V, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Tống Văn T đã công khai, nhanh chóng nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Ngô Văn T 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Pro Max trị giá 12.000.000 đồng và 01 mắt kính giá trị 600.000 đồng. Tổng cộng 12.600.000 đồng. Hành vi của bị cáo Tống Văn T đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” và tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 168 và khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Bản Cáo trạng số 02/CT-VKSTB, ngày 17 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Tống Văn T về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự và tội “Cướp giật tài sản” theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm pháp luật hình sự đối với hành vi đã gây ra.

Khi quyết định hình phạt, cần xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo:

Tình tiết tặng nặng: Đối với tội “Cướp tài sản” bị cáo Tống Văn T bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đối với tội “Cướp tài sản” bị cáo tự khai lần phạm tội trước đó. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ; nhân thân của bị cáo thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về bồi thường thiệt hại: Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại. Do đó, cần buộc bị cáo Tống Văn T bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể như sau:

Bồi thường cho anh Ngô Văn T số tiền 15.000.000 đồng;

Bồi thường cho anh Nguyễn Tấn Th số tiền 10.230.000 đồng;

Bồi thường cho chị Đoàn Thị Như L số tiền 1.000.000 đồng.

Ghi nhận anh Ngô Bá Hưng không yêu cầu bồi thường.

Tổng cộng buộc bị cáo Tống Văn T bồi thường cho các bị hại số tiền 26.230.000 đồng.

Xử lý vật chứng:

01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, dung lượng 64GB, số IMEI: 354844093849266, đây là điện thoại của bị cáo Tống Văn T có được từ việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo Tống Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.311.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Tống Văn T phạm tội “Cướp tài sản” và Cướp giật tài sản”.

1.1. Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Tống Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 28/02/2023.

1.2. Căn cứ khoản 1 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Tống Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 28/02/2023.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc bị cáo Tống Văn T chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 28/02/2023.

2. Bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Tống Văn T bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ thể như sau:

Bồi thường cho anh Ngô Văn T số tiền 13.000.000 (mười ba triệu) đồng;

Bồi thường cho anh Nguyễn Tấn Th số tiền 10.230.000 (mười triệu hai trăm ba mươi nghìn) đồng;

Bồi thường cho chị Đoàn Thị Như L số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.

Tổng số tiền bị cáo Tống Văn T phải bồi thường là 26.230.000 (hai mươi sáu triệu hai trăm ba mươi nghìn) đồng.

3. Xử lý vật chứng:

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone X, màu trắng, dung lượng 64GB, số IMEI: 354844093849266 của bị cáo Tống Văn T.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Tống Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.311.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

6. Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án ./.

Cỡ chữ