vanban.org

Bản án 14/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1

56; các Điều: 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị D - Hoàng Văn D1"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 05, “ V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hồng Các Hội thẩm nhân dân: bà Hồ Thị Lan và ông Lê Như Toản - Thư ký phiên tòa: bà Vũ Phương Thanh - Thư ký Tòa án. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thùy - Kiểm sát viên. Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 293/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023, về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 01 năm 2024, theo quyết định hoãn phiên toà số 17/2024/QĐST- HNGĐ ngày 22/01/2024, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: chị Phạm Thị D, sinh năm 1991; nơi đăng ký thường trú: xóm 4, xã H, huyện H, tỉnh N; nơi tạm trú: tổ 12B, khu 4B, phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt. - Bị đơn: anh Hoàng Văn D, sinh năm 1984; nơi nơi đăng ký thường trú: thôn L, xã Tràng Bạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; nơi tạm trú: tổ 12B, khu 4B, phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị D1 trình bày: - Về tình cảm: chị D1 và anh D2chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Hải Bắc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định vào ngày 17/02/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cách ứng xử của anh D2trong đời sống vợ chồng, cụ thể: anh D2luôn cho rằng ông Nam là người đã cưỡng bức chị D1 trước khi kết hôn và tự ám ảnh. Do vậy, anh D2thường mang chuyện đó ra để dày vò tinh thần của chị D1, một sự việc, một sinh hoạt nhỏ anh D2cũng nổi nóng với chị D1 làm cho vợ chồng cãi vã, xô sát, nếu ở mức độ căng thẳng hơn anh D2sẵn sàng đánh đập chị D1. Hơn thế, trong cuộc sống hằng

ngày từ việc nhỏ nhất nếu không đúng ý anh D2thì anh D2sẵn sàng chửi bới, xúc phạm chị D1 về nhân phẩm, nhân cách làm chị D1 luôn bị tổn thương trầm trọng về mặt tinh thần. Bên cạnh đó, anh D2còn có quan hệ ngoại tình, tuy chị D1 không được chứng kiến nhưng thông qua những tin nhắn của anh D2trong điện thoại với người phụ nữ đó và việc chồng của người phụ nữ đó đã 02 lần gọi điện cho chị D1 thông tin về sự việc vợ người đó và anh D2có quan hệ tình cảm với nhau. Thực trạng trên đã diễn ra trong nhiều năm dẫn đến vợ chồng không còn sự thương yêu quý trọng lẫn nhau, không muốn tiếp thu bất cứ ý kiến gì từ phía đối phương và cuộc sống chung không có hạnh phúc. Bản thân chị D1 luôn cảm thấy bị tổn thương nghiêm trọng về mặt tinh thần và ảnh hưởng tiêu cực về mặt sức khỏe. Những áp lực từ cuộc sống gia đình nêu trên khiến chị D1 sợ phải chung sống với anh Dũng, nên đã phải bỏ việc và về quê sinh sống cùng bố mẹ đẻ. Thậm trí, chị D1 không dám nhận nuôi con chung vì sợ anh D2sẽ gây áp lực cho chị D1. Hiện chị D1 chỉ mong sớm được giải thoát để bản thân được ổn định về sức khoẻ và tinh thần, đề nghị Toà án giải quyết cho chị D1 được ly hôn với anh Dũng. - Về con chung: anh, chị có 02 con chung là Hoàng Phạm Thanh Trúc, sinh ngày 10/9/2015 và Hoàng Phạm Tuyết Mai, sinh 27/10/2017. Chị D1 nhất trí với quan điểm của anh D2về con chung, cụ thể: anh D2là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi các con chung đủ tuổi thành niên và chị D1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung với anh Dũng. - Về tài sản và khoản nợ chung: không có. * Bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà trình bày: + Về tình cảm: xác nhận về thời điểm chung sống, kết hôn như chị D1 trình bày nêu trên. Ngoài ra, anh D2trình bày: từ khi vợ chồng kết hôn, chung sống với nhau đến nay, bản thân anh D2là người rất có trách nhiệm vun vén cho kinh tế gia đình, chị D1 cũng là người có lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với gia đình. Tuy nhiên trong nhiều năm nay anh, chị thường xảy ra mâu thuẫn, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không mấy hạnh phúc, căng thẳng mệt mỏi. Nguyên nhân là do cách vợ chồng ứng xử với nhau trong đời sống hàng ngày. Về phía chị D1 từ khi kết hôn đến nay chị D1 luôn có những ứng xử thiếu tinh tế, làm cho anh D2bị ức chế. Nguyên nhân khác xuất phát từ bản thân anh D2luôn bị ám ảnh về việc ông Nam cưỡng bức chị D1 trước khi kết hôn. Từ nỗi ám ảnh này đã ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân vì bản thân anh D2không thể thoát ra được nỗi ám ảnh này và luôn cảm thấy ấm ức. Do vậy từ những sinh hoạt nhỏ hàng ngày nếu không vừa ý thì anh D2dễ nổi giận dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, xô sát. Khi mâu thuẫn căng thẳng không làm chủ được bản thân thì anh D2cũng xúc phạm, đánh đập chị D1. Từ những vấn đề trên tình cảm giữa vợ chồng ngày càng khó hòa hợp, anh D2đã nhiều lần trao đổi với chị D1 để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng chị D1 không tiếp thu mà còn có lời lẽ coi thường anh Dũng. Nay anh D2nhận thấy là phần lớn mâu thuẫn vợ chồng xuất phát từ suy nghĩ, từ cách ứng xử của anh D2nên anh D2rất mong vợ chồng có thêm thời gian để cùng nhau điều chỉnh những ứng xử không hợp lý trong quan

hệ vợ chồng và trở về đoàn tụ với nhau. Anh D2không nhất trí với yêu cầu xin ly hôn của chị D1. + Về con chung: xác nhận tên tuổi các con chung như chị D1 trình bày nêu trên. Anh D2đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung và không yêu cầu chị D1 phải cấp dưỡng nuôi con chung với anh Dũng. + Về tài sản và khoản nợ chung: không có. * Lời khai con chung Hoàng Phạm Thanh Trúc có nguyện vọng muốn anh D2là người trực tiếp nuôi dưỡng. * Tại biên bản xác minh ngày 05/01/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, đại diện chính quyền địa phương cung cấp như sau: chị D1 và anh D2là vợ chồng hợp pháp, có đăng ký tạm trú và sinh sống tại địa bàn tổ12B, khu 4B, phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long nhiều năm nay. Về mâu thuẫn vợ chồng địa phương không nắm được, chỉ thấy có lần chị D1 sang trình bày giữa anh chị có mâu thuẫn và muốn đại diện tổ dân khu phố đến nhà để hoà giải, nhưng sau đó chị D1 sợ anh D2gây phiền hà cho mọi người nên không đề nghị nữa. Anh D2và chị D1 đều có công việc làm và thu nhập ổn định, không có điều tiếng gì tại địa phương về lối sống, đều có trách nhiệm và đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung. * Tại phiên tòa, Kiểm sát Viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh phát biểu ý kiến như sau: - Về tố tụng: quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. - Về nội D1: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; các Điều: 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị D1 về việc: "Tranh chấp ly hôn, nuôi con”; xử cho chị Phạm Thị D1 ly hôn với anh Hoàng Văn Dũng; về con chung: giao cho anh D2trực tiếp nuôi dưỡng 02 cho đến khi các con chung đủ tuổi thành niên. Chị D1 không phải cấp dưỡng nuôi con với anh Dũng; về tài sản và khoản nợ chung: các đương sự trình bày không có, nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là “tranh chấp về ly hôn, nuôi con” quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng Dân sự; tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án bị đơn có nơi cư trú tại địa bàn phố Hạ Long. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long thụ lý, giải quyết vụ án đảm bảo đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn: tại phiên tòa sơ thẩm mở lần thứ nhất và lần thứ 2, nguyên đơn đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Toà án nhưng vắng mặt và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó việc xét xử vắng mặt nguyên đơn đảm bảo đúng quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. [2] Về nội dung: 1- Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: - Về quan hệ hôn nhân: chị D1 và anh D2chung sống với nhau vào năm 2015, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hải Bắc, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, là hôn nhân hợp pháp. Về mâu thuẫn vợ chồng, chị D1 và anh D2đều có lời khai xác nhận trong nhiều năm nay anh, chị thường xảy ra mâu thuẫn, làm cho cuộc sống vợ chồng không mấy hạnh phúc, căng thẳng mệt mỏi. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng do xuất phát từ suy nghĩ, ứng xử của anh D2trong đời sống vợ chồng, cụ thể: anh D2luôn cho rằng ông Nam là người đã cưỡng bức chị D1 trước khi kết hôn, nên không thoát ra được sự ám ảnh đó.Chính vì thế, trong quá trình chung sống, chỉ từ những sinh hoạt nhỏ hàng ngày nếu không vừa ý thì anh D2dễ nổi giận dẫn đến vợ chồng xảy ra xô sát. Khi mâu thuẫn căng thẳng không làm chủ được bản thân thì anh D2cũng xúc phạm, đánh đập chị D1. Xét các đương sự đều có lời khai thừa nhận về mâu thuẫn và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng như nêu trên, là tình tiết vụ án không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, anh D2thừa nhận chị D1 có lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với gia đình. Do đó, đủ cơ sở xác định xuất phát từ suy nghĩ không đúng đắn của bản thân nên trong đời sống vợ chồng anh D2không có sự thương yêu quý trọng và thường xuyên có hành vi xúc phạm, đánh đập chị D1. Từ suy nghĩ và cách ứng xử đó, đã làm cho hôn nhân của anh, chị lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Điều 56 Luật hôn nhân gia đình quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ cho về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được” Đối chiếu với quy định trên, cần chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị D1, xử cho chị D1 ly hôn với anh Hoàng Văn Dũng. - Về con chung: anh, chị có 02 con chung tên, tuổi như nêu trên và cùng thống nhất anh D2là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến khi các con chung đủ tuổi thành niên, chị D1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung với anh Dũng. Xét thoả thuận của các đương sự là phù hợp, đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, nên cần ghi nhận. - Về tài sản và khoản nợ chung: các đương sự trình bày không có, nên không xét.

Về án phí: chị Phạm Thị D1 phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. [4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. [5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long là phù hợp, có cơ sở chấp nhận. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều: 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí. [2] Tuyên xử: 1. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Phạm Thị D1, về việc: “tranh chấp về ly hôn, nuôi con”. - Về tình cảm: xử cho chị Phạm Thị D1 ly hôn với anh Hoàng Văn Dũng. - Về con chung: giao cho anh Hoàng Văn D2trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Hoàng Phạm Thanh Trúc, sinh ngày 10/9/2015 và Hoàng Phạm Tuyết Mai, sinh 27/10/2017 cho đến khi các con chung đủ tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Phạm Thị D1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung với anh D2và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung theo quy định của pháp luật mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. 2. Về án phí: buộc chị Phạm Thị D1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị D1 đã nộp, theo biên lai thu số 0000013 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. 3. Về quyền kháng cáo: bị đơn có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; nguyên đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ