vanban.org

Bản án 14/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Bích N về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Đắc N;

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Bích N được ly hôn với ông Nguyễn Đắc N; Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 12/01/2017 và Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 28/5/2019 cho bà Phạm Bích N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Bích N về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Đắc N;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2024/HNGĐ- ST
Ngày 17/01/2024
“V/v: Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Hương;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Đức Lý;

2. Bà Nguyễn Thị Bạn;

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh- Chức vụ: Kiểm sát viên;

Ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 787/2023/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Bích N, sinh năm 1985 (Có mặt);

Địa chỉ: Đường L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

Bị đơn: Ông Nguyễn Đắc N, sinh năm 1989 (Vắng mặt- Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Đường L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Bích N trình bày có nội dung:

Bà Phạm Bích N và ông Nguyễn Đắc N tự nguyện chung sống với nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

Vợ chồng có 02 con chung: Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 12/01/2017 và Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 28/5/2019;

Quá trình chung sống đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Mặc dù đã nhiều lần hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Mâu thuẫn phát sinh ngày càng gay gắt nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2021 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống được nữa nên yêu cầu bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Đắc N;

Về con chung: Hiện nay các con chung đang ở cùng bà Ngọc nên bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con chung là Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 12/01/2017 và Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 28/5/2019 đến tuổi trưởng thành;

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N, ông N tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N, ông N không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Hiện tại bà đang làm ở công ty Đ, thu nhập hàng tháng khoảng 20.000.000đ/tháng.

Tại bản tự khai, ông Nguyễn Đắc N trình bày có nội dung:

Ông Nguyễn Đắc N và bà Phạm Bích N và tự nguyện chung sống với nhau năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

Vợ chồng có 02 con chung: Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 12/01/2017 và Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 28/5/2019;

Quá trình chung sống đến khoảng năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung trong cuộc sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Mặc dù đã nhiều lần hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Mâu thuẫn phát sinh ngày càng gay gắt nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2021 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống được nữa nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Bích N;

Về con chung: Ông N đồng ý để các con chung là Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 12/01/2017 và Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 28/5/2019 cho bà Phạm Bích N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành;

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N, ông N tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về tài sản chung, nợ chung: Bà N, ông N không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết ;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục. Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự;

Về nội dung vụ án, xét thấy bà Phạm Bích N và ông Nguyễn Đắc N tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Nay bà Phạm Bích N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Nguyễn Đắc N là có cơ sở chấp nhận;

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 220; Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Bích N về việc ly hôn với ông Nguyễn Đắc Nam. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 12/01/2017 và Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 28/5/2019 cho bà Phạm Bích N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;

Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Phạm Bích N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Đắc N có nơi cư trú tại đường L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về thủ tục tố tụng: Xét thấy bị đơn ông Nguyễn Đắc N có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Bích N và ông Nguyễn Đắc N tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình duy trì hôn nhân, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh ngày càng căng thẳng, vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2021 đến nay. Ông Nguyễn Đắc N xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và kéo dài đến nay; mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn; do đó cần chấp nhận nguyện vọng ly hôn của bà Phạm Bích N là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Về con chung: Bà N và ông N thống nhất giao các con chung là Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 12/01/2017 và Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 28/5/2019 cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; do đó cần giao các con chung cho bà Phạm Bích N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ tuổi trưởng thành;

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Phạm Bích N và ông Nguyễn Đắc N tự thỏa thuận, không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;

Ông Nguyễn Đắc N có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở;

Về tài sản chung: Bà Phạm Bích N và ông Nguyễn Đắc N xác định không có tài sản chung, không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về án phí: Bà Phạm Bích N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 220; Điều 227; Điều 266; Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Bích N về việc yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Đắc N;

Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Bích N được ly hôn với ông Nguyễn Đắc N;

Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 12/01/2017 và Nguyễn Ngọc C, sinh ngày 28/5/2019 cho bà Phạm Bích N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành;

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Phạm Bích N và ông Nguyễn Đắc N tự thỏa thuận, không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;

Ông Nguyễn Đắc N có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở;

Về tài sản chung: Bà Phạm Bích N và ông Nguyễn Đắc N xác định không có tài sản chung, không đặt ra yêu cầu Tòa án giải quyết;

Về án phí: Bà Phạm Bích N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí mà bà Phạm Bích N đã nộp theo biên lai thu số AA/2022/0004581 ngày 02 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

Nguyên đơn bà Phạm Bích N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Bị đơn ông Nguyễn Đắc N có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ