- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D yêu cầu ly hôn với anh Nh"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 16/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/9/2024 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÚK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Tín.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Y Mưng Niê;
2. Ông Vũ Công Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thảo Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 16/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2024/TLST-HNGĐ ngày 02/7/2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/8/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1997. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố 7, thị trấn P, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Nh, sinh năm 1991. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn 6, xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG V N:
Theo đơn khởi kiện cũng như tại phiên toà nguyên đơn ch Nguyễn Th Mỹ D trình bày: Tôi và anh Nh tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện K vào ngày 24/3/2016. Và chung sống dần dần phát sinh mâu thuẫn và trầm trọng nhất là vào đầu năm 2023 nên thường xuyên cãi vã, bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn ngày càng gay gắt, không thể hòa hợp thêm được nữa, nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt nên tôi yêu cầu tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nh. Về con chung: trong quá trình chung sống chúng tôi có 02 con chung là Nguyễn Gia Ph (sinh ngày 16/12/2013), Nguyễn Gia L (sinh ngày 22/10/2015). Tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến tuổi trưởng thành, 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung, tôi không yêu cầu giải quyết. Về tài sản và công nợ chung: Tôi không yêu cầu giải quyết.
- Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập bị đơn anh Nguyễn Văn Nh nhưng anh Nh vắng mặt không có lý do; vì vậy không thể ghi nhận ý kiến trình bày của anh Nh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Búk phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Nh vắng mặt tại phiên toà không có lý do nên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án, chị D và anh Nh tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thời gian gần đây thì phát sinh nhiều mâu thuẫn; xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị D ly hôn với anh Nh. Về con chung: Đề nghị HĐXX chấp nhận giao con chung Nguyễn Gia Ph (sinh ngày 16/12/2013), Nguyễn Gia L (sinh ngày 22/10/2015) cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành; về cấp dưỡng nuôi con chung, chị D không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra để giải quyết. Về tài sản và công nợ chung, chị D yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết.
Tại phiên toà nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu, ý kiến.
NH N Đ NH CỦA TOÀ N:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn Nh đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn anh Nh.
- Về nội dung:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh Nh tự nguyện kết hôn với nhau tại UBND xã Chứ Kbô, huyện Krông Búk vào ngày 24/3/2016. Vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì dần phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, quan điểm sống; cả hai đã sống ly thân với nhau được một thời gian. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh Nh đã đến mức trầm trọng, không thể hoà giải, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D, cho chị D được ly hôn với anh Nh để tạo điều kiện cho cả hai có một cuộc sống riêng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2] Về con chung: Quá trình chung sống chị D và anh Nh có Nguyễn Gia Ph (sinh ngày 16/12/2013), Nguyễn Gia L (sinh ngày 22/10/2015). Hiện các con chung đang ở với chị D; các con chung đều có nguyện vọng được tiếp tục ở với chị D. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy để tránh những thay đổi trong cuộc sống, học tập, sinh hoạt và xem xét đến nguyện vọng của các cháu, cần giao các con chung cho chị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị D không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Anh Nh được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về tài sản và công nợ chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà án không đặt ra để xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 2 Điều 482 Bộ Luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ D.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với anh Nguyễn Văn Nh.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Gia Ph (sinh ngày 16/12/2013), Nguyễn Gia L (sinh ngày 22/10/2015) cho chị Nguyễn Thị Mỹ D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị D không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Anh Nguyễn Văn Nh được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về tài sản và công nợ chung: Các bên không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0006294 ngày 27/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Búk.
Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo luật định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND huyện Krông Búk; - Chi cục THADS huyện Krông Búk; - UBND xã Chứ Kbô; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Vp. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Võ Văn Tín |