- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Bích H được ly hôn với ông Hoàng Xuân Q.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23- 5- 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Anh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Thế Chiến
2. Bà H’ Gun Niê
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hoài– Là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: bà HĐơk Thị Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại phòng xử án, Trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên toà số 19/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích H, sinh năm 2000- Có đơn xin xét xử vắng
mặt.
Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
Bị đơn: Ông Hoàng Xuân Q, sinh năm 1992- Vắng mặt
Địa chỉ: Buôn R, TT. B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Trần Thị Bích H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Bích H và ông Hoàng Xuân Q đến với nhau trên cơ sở tình yêu tự nguyện, C tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại U, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 28/6/2018. Sau khi về chung sống thì vợ chồng hạnh phúc được một thời gian ngắn, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do cuộc sống chung của vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông Hoàng Xuân Q thường xuyên đánh bài và không chịu chăm lo kinh tế cho gia đình, ngoài ra ông Q còn có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, nên hiện nay không còn tình cảm yêu thương, chăm sóc nhau nữa, vợ chồng đã ly thân từ đầu năm 2023 đến nay.
Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được.
Nguyện vọng của bà Trần Thị Bích H xin được ly hôn với ông Hoàng Xuân Q.
Về con chung: Bà Trần Thị Bích H và ông Hoàng Xuân Q có 02 con chung cháu Hoàng Trần Thiên Â, sinh ngày 03/01/2018, cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 16/5/2021.
Hiện nay các cháu đang ở với bà Trần Thị Bích H, sau khi ly hôn bà Trần Thị Bích H có nguyện vọng xin được nuôi 02 người con chung và không yêu cầu ông Hoàng Xuân Q cấp dưỡng tiền nuôi con.
Bà Trần Thị Bích H mở tiệm làm Nail, thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu  và cháu T.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Hoàng Xuân Q không đến tòa làm việc, trình bày ý kiến của mình.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và nội dung vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử thẩm phán chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án;
Đề nghị Hội đồng xét xử cho bà Trần Thị Bích H được ly hôn với ông Hoàng Xuân Q.
Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Hoàng Trần Thiên Â, sinh ngày 03/01/2018, cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 16/5/2021 cho bà Trần Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Trần Thị Bích H không yêu cầu, nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bà Trần Thị Bích H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền:
Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện của bà Trần Thị Bích H đề ngày 19/4/2023, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xác định quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của BLTTDS.
Về thẩm quyền: Tại thời điểm bà Trần Thị Bích H làm đơn khởi kiện, bị đơn ông Hoàng Xuân Q, cư trú tại Buôn R, thị trấn B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Krông Ana áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Về chấp hành quy định pháp luật: Sau khi thụ lý vụ án, do không tống đạt trực tiếp được cho ông Hoàng Xuân Q, tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng là đảm bảo việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 179 BLTTDS. Tuy nhiên, ông Hoàng Xuân Q không tham gia tố tụng cũng như không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên hoà giải là từ bỏ quyền và không thực hiện nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa lần thứ nhất ông Hoàng Xuân Q vắng mặt, nên HĐXX đã hoãn phiên tòa và tống đạt quyết định hoãn phiên tòa cho ông Hoàng Xuân Q. Tại phiên tòa hôm nay bị đơn ông Hoàng Xuân Q vắng mặt không có lý do, nguyên đơn bà Trần Thị Bích H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, HĐXX áp dụng Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đảm bảo đúng quy định pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Bích H và ông Hoàng Xuân Q chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện. Có đăng ký kết hôn ngày 28/6/2018 tại Ủy ban nhân dân U, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Trần Thiên Â, sinh ngày 03/01/2018, cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 16/5/2021.
Kết quả xác minh, chính quyền địa phương không nắm rõ mâu thuẫn giữa bà Trần Thị Bích H và ông Hoàng Xuân Q, vì sau khi cưới vợ chồng thường xuyên vắng mặt tại địa phương. Tuy nhiên, gần đây chỉ thấy ông Q về địa phương sinh sống với bố mẹ đẻ, còn bà H đã dẫn hai người con chung đi nơi khác sinh sống và vợ chồng đã ly thân không còn chung sống với nhau. Quá trình tham gia tố tụng bà Trần Thị Bích H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày một trầm trọng, vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 đến nay, nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Còn ông Hoàng Xuân Q mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không lên tòa trình bày ý kiến.
Tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”
Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị Bích H và ông Hoàng Xuân Q không thể kéo dài, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị Bích H, cho bà Trần Thị Bích H được ly hôn với ông Hoàng Xuân Q.
Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Trần Thị Bích H và ông Hoàng Xuân Q có 2 con chung là cháu Hoàng Trần Thiên Â, sinh ngày 03/01/2018, cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 16/5/2021, hiện nay các cháu đang do bà Trần Thị Bích H chăm sóc, bà Trần Thị Bích H có nguyện vọng sau khi ly hôn thì xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con chung cho đến lúc các cháu trưởng thành. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Hoàng Xuân Q cũng không có mặt để xác định nguyện vọng của ông về việc nuôi dưỡng con chung. Xét thấy nguyện vọng của bà Trần Thị Bích H là chính đáng, đảm bảo cho sự phát triển của con chung, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu Hoàng Trần Thiên Â, sinh ngày 03/01/2018, cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 16/5/2021 cho bà Trần Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ tuổi trưởng thành. Ông Hoàng Xuân Q được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Thị Bích H không yêu cầu ông Hoàng Xuân Q cấp dưỡng tiền nuôi các con chung, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị Bích H không yêu cầu, nên HĐXX không đề cập xem xét.
Về án phí: Bà Trần Thị Bích H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa là phù hợp, HĐXX cần chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Bích H được ly hôn với ông Hoàng Xuân Q.
Về con chung: Giao cháu Hoàng Trần Thiên Â, sinh ngày 03/01/2018, cháu Hoàng Anh T, sinh ngày 16/5/2021 cho bà Trần Thị Bích H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi.
Ông Hoàng Xuân Q được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, ông Hoàng Xuân Q không được lạm dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền thay đổi việc nuôi con chung và cấp dưỡng phí tổn nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Trần Thị Bích H không yêu cầu ông Hoàng Xuân Q cấp dưỡng tiền nuôi các con chung, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: bà Trần Thị Bích H không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Bà Trần Thị Bích H phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0008260 ngày 30/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk.
Nguyên đơn bà Trần Thị Bích H, bị đơn ông Hoàng Xuân Q vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự, Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Ana; - THADS huyện Krông Ana; - Người tham gia tố tụng; - UBND TT. Buôn Trấp; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Chu Anh Hùng |